Mononobe no Futo

Từ Touhou Wiki - Việt Nam
(đổi hướng từ Futo)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
物部 (もののべ)    ()  布都 (ふと)
Mononobe no Futo
mononobe no ɸɯ̥to (♫)
Mononobe no Futo
Banchou! Thi giải tiên người làm vỡ chiếc đĩa
Chủng loài

Đạo sĩ, tự nhận mình là một thi giải tiên

Điều khiển phong thủy

Nơi sinh sống / hoạt động

Mononobe no Futo (物部 布都 Mononobe Futo) là một đạo sĩ, bản thân cô tự nhận mình là một thi giải tiên. Cô xuất hiện lần đầu trong Ten Desires.

Thông tin[sửa]

Futo tự giới thiệu rằng mình là một thi giải tiên, nghĩa là cô đã dùng bí thuật để tiến vào trạng thái chết giả, từ đó vượt qua giới hạn về tuổi thọ của con người. Thông qua việc hồi sinh bằng thuật này, Futo có thể chọn cho mình một hình dáng theo ý thích, nhưng cô vẫn chọn vẻ bề ngoài truyền thống, trong khi Miko thì lại chọn một vẻ ngoài hiện đại hơn.[cần dẫn nguồn]

Mặc dù trong thông tin cá nhân của mình, cô được đề cập đến như là một "đạo sĩ người tự nhận mình là một thi giải tiên", nhưng dựa theo quá khứ cũng như bài viết của cô trong Symposium of Post-mysticism, có thể khẳng định rằng cô thực sự là một thi giải tiên.

Tính cách[sửa]

Futo được mô tả là một người có tính cách ôn hòa, nhưng nói chung không thể thích ứng được với thời hiện đại cũng như cuộc sống ở Ảo Tưởng Hương. Akyuu nói sự khép kín này khiến cô thực sự có tính cách "của một tiên nhân". Ngay cả trong quá khứ, cô luôn một lòng theo Đạo giáo mà bỏ qua Phật giáo, thứ tôn giáo mới được du nhập vào Nhật Bản thời đó, điều này cho thấy sự bảo thủ và không thích các cải cách của cô.[1]

Futo rất thân thiện với con người, và thậm chí có thể ra tay cứu họ trong một số trường hợp. Ngược lại cô có thái độ thù địch với các yêu quái vì một vài lý do nào đó. Futo trong quá khứ cũng rất sợ các bức tượng Phật vì niềm tin mù quáng rằng chúng có thể "gây hại" cho cô, và dù Miko miêu tả Futo như là một con mèo nhát gan, sự "nhát gan" này cuối cùng đã dẫn tới những hành động cực đoan. Cô sẵn sàng đốt trụi toàn bộ tượng Phật cũng như chùa chiền mà cô thấy, như những gì cô và tộc Mononobe của cô đã làm trong quá khứ, vào thời điểm chiến tranh tôn giáo nổ ra.[cần dẫn nguồn]

Trong giao tiếp, Futo cũng dùng cách nói của Nhật Bản cổ. Cô dùng đại từ wa (, "Ngã", "ta") cho ngôi thứ nhất và onushi (おぬし, "bạn") cho ngôi thứ hai. Cách cô thêm zo () vào cuối câu để nhấn mạnh cũng có một chút lỗi thời. Dựa vào xuất thân và việc cô từng sống ở thời cổ, ta có thể thấy cô luôn giữ sự uy nghiêm của một quý tộc, và không bao giờ nói chuyện một cách thoải mái. Trong các bản dịch tiếng Anh cách nói chuyện của cô được phản ánh qua việc dịch giả sử dụng tiếng Anh cổ.

Cô có cách nghĩ khá ngây thơ, như trong Ten Desires khi điều đầu tiên cô nghĩ khi thấy nhân vật chính là đến để mừng cho sự hồi sinh của mình, ngay cả khi nhân vật chính đã cho thấy thái độ của mình, Futo lại nghĩ rằng họ đến với vai trò là "thử thách" cuối cùng mà cô phải trải qua trước khi hồi sinh. Trong khi Futo dễ dàng chấp nhận thất bại của mình và thậm chí còn khen ngợi người đã đánh bại mình, cô lại luôn đưa ra các lý do để giải thích việc mình chưa dùng tới sức mạnh thực sự của bản thân.[cần dẫn nguồn]

Năng lực[sửa]

Điều khiển phong thủy

Năng lực của Futo, theo như cô cho biết, là điều khiển phong thủy. Tuy nhiên các chi tiết về năng lực này chưa bao giờ xuất hiện trong các tài liệu chính thức. Và trong khi phong thủy hoàn toàn thuộc về Đạo giáo, sự tôn thờ tự nhiên khiến việc Futo dùng nó có vẻ như gần với Thần giáo hơn. Về cơ bản, phong thủy liên quan tới dòng chảy của "khí" trong tự nhiên, và những người học phong thủy tác động đến môi trường xung quanh để thay đổi dòng chảy của "khí" theo ý mình, từ đó có thể tác động được tới một số thứ như vận may hay số mệnh. Phong thủy có hiệu quả cao khi dùng với những vật tĩnh như công trình, và ngược lại có hiệu quả thấp hơn khi dùng lên con người hay các sinh vật sống khác.[cần dẫn nguồn]

Spell card

Spell card của Futo có chủ đề khá đa dạng. Một số spell card được lấy từ các truyền thuyết về tộc Mononobe của cô, cùng với đó là về cuộc chiến tranh chống Phật giáo của họ trong quá khứ. Trong cả Ten DesiresHopeless Masquerade, có thể thấy sự nổi bật về các spell card liên quan tới lửa của Futo. Các spell card đó có thể lấy ý tưởng từ Đạo giáo và các hành động đốt chùa chiền của tộc Mononobe.

Cũng có một spell card có liên quan tới phong thủy, mà cụ thể hơn là "long mạch", ví dụ spell card Heat Dragon "Blazing Dragon Veins". Một spell card khác của cô thì dùng phong thủy để khiến vận rủi tràn tới kẻ địch (hiệu nghiệm tới mức có thể khiến đối phương đang giữa ban ngày ban mặt bị đĩa bay rơi trúng đầu).

Trong nhiều spell card của cô ta có thể thấy cô dùng những đồ vật hỗ trợ, bao gồm một con thuyền gỗ và đặc biệt là những đĩa rượu sake.

Nghề nghiệp[sửa]

Hiện Futo đang sống ở Mộng Điện của Đại Tự Miếu với vai trò là một bề tôi thân cận của Toyosatomimi no Miko. Ngoài ra cô cũng tu luyện đạo pháp ở đó.

Sở hữu[sửa]

Futo sở hữu rất nhiều những đĩa rượu lớn, và vì Miko vẫn giữ thanh Thất Tinh Kiếm (vốn được giả định là vật mà cô dùng để chuyển hồn vào trong quá trình trở thành thi giải tiên), vậy nên ta cũng có thể cho rằng Futo cũng đang giữ đĩa rượu dùng làm vật chuyển hồn cho mình. Cô còn sở hữu một con thuyền gỗ. Có thể nó liên quan tới truyền thuyết rằng Nigihayahi no Mikoto, người sáng lập nên tộc Mononobe, đã giáng phàm trên một con thuyền đá có tên Ame no Iwafune.

Thiết kế[sửa]

Tên gọi[sửa]

Ý nghĩa những chữ trong họ Mononobe:

  • mono (, "Vật", trong "đồ vật").
  • nobe (, "Bộ", trong "bộ phận").

Họ của Futo lấy từ tộc của cô Mononobe.

Ý nghĩa những chữ trong tên Miko:

  • fu (, "Bố", nghĩa là "vải vóc").
  • to (, "Đô", trong "thủ đô").

Tên của Futo có thể lấy từ tên của Futsuhime (布都姫), nhân vật được cho là nguyên mẫu tạo nên cô (một âm khác của tsu).

Ngoại hình[sửa]

Futo khi trúng spell card biến hình của Mamizou.
Ten Desires

Cô có mắt màu xám, mái tóc dài màu xám buộc đuôi gà. Cô mặc một bộ trang phục có liên hệ tới bộ kariginu (狩衣) hoặc suikan (水干). Vào thời Heian, chúng là loại trang phục ngày thường của các kuge (公家, "Công gia"), nhưng chỉ giành cho nam mà thôi. Trang phục của Futo bao gồm áo ba lớp, lớp ngoài cùng màu trắng, lớp giữa màu xanh mòng két và lớp trong cùng màu vàng. Thay cho quần dài truyền thống thì cô mặc váy màu tím, ở góc trái phía trước của phần vải trắng dưới váy có đính một hoa văn với những chấm đỏ ở cuối ngọn (với Tojiko là những chấm xanh). Cô đội một chiếc eboshi (烏帽子) màu xanh thẫm và mang giày màu tím đen. Tại mỗi ống tay áo, giày, cổ áo và mũ của cô đều được may (gắn?) với một sợi dây với màu sắc khác nhau (mặc dù hai sợi ở chân cô có vẻ mang màu sắc giống nhau). Trước ngực áo cô có gắn những một búi lông màu đen.

Hopeless Masquerade

Ngoại hình của Futo trông có vẻ trẻ hơn so với sự xuất hiện của cô trong Ten Desires. Tóc của cô mang màu xám đậm hơn và hơi pha với màu nâu. Năm sợi dây màu của Futo giờ mang năm màu khác nhau hoàn toàn, chúng có thể tượng trưng cho ngũ hành trong Đạo giáo với sợi màu đỏ ở tay trái tượng trưng cho hỏa (), sợi màu lục ở tay phải tượng trưng cho mộc (), sợi màu vàng ở chân trái tượng trưng cho thổ (), sợi màu xanh dương ở chân phải tượng trưng cho thủy () và sợi màu trắng ở trên mũ tượng trưng cho kim (). Sợi dây buộc ở cổ áo cô có màu tím. Váy của cô trông ngắn hơn rất nhiều và búi lông trước ngực thì rất to.

Khi bị trúng đòn Transformation "Futatsuiwa Family's Clan", cô bị biến thành một con chim màu trắng đậu trên một đĩa rượu, trên đầu con chim đó mang chiếc eboshi giống như của Futo.

Urban Legend in Limbo

Tóc của Futo giờ trở lại thành màu xám, phần tóc cột hơi chéo sang trái. Lớp áo ngoài cùng của cô hơi pha màu cam. Váy của cô có nếp gấp.

Quá khứ[sửa]

Theo thông tin cá nhân trong Ten Desires

Futo vốn thuộc tộc Mononobe, được biết đến như là một gia tộc theo Thần giáo. Tuy nhiên bản thân Futo lại không theo Thần giáo mà theo một tôn giáo khác là Đạo giáo. Đạo giáo có ích lợi to lớn với những người mang quyền lực chính trị vì chúng có thể mang tới những sức mạnh siêu phàm cho người tu luyện, thậm chí có thể giúp họ đạt được sự trường sinh bất lão. Nhưng bản thân nó lại không mang lợi lâu dài khi mà bất kỳ ai cũng có thể tu luyện đạo pháp, đạt được sức mạnh giống họ và như vậy sẽ khiến cho đất nước chìm trong khủng hoảng. Vì thế Futo đã tu luyện đạo pháp trong bí mật. Vào thời điểm đó Toyosatomimi no Miko đã tiếp cận Futo và đề nghị với cô về một kế hoạch: Miko sẽ bình định đất nước bằng cách truyền bá Phật giáo, trong khi đó cô và Futo sẽ tự dùng bí thuật để làm bản thân chết đi trước khi hồi sinh lại thành một thi giải tiên. Cuối cùng Miko sẽ hồi sinh và cai trị đất nước vĩnh viễn với tư cách là một vị thánh.

Để làm được điều này, Futo đã trở thành đồng minh với tộc Soga, khiến họ đặt niềm tin một cách mù quáng vào Phật giáo và qua đó thao túng họ. Tộc Mononobe, vốn là những người theo Thần giáo, tất nhiên không hài lòng về điều này, kết cục là cuộc chiến giữa hai tộc đã nổ ra. Tộc Mononobe thất bại và gặp thảm họa diệt tộc, trong khi đó kế hoạch của Miko lại gặp vấn đề, sau khi cô chết đi những nhà sư đã xây nên một ngôi chùa ngay trên lăng mộ của cô khiến cô không thể hồi sinh như dự kiến. Sau cùng cả Miko và Futo đều đã được di chuyển vào bên trong Ảo Tưởng Hương. Tai nơi này họ lại tiếp tục gặp cản trở từ Mệnh Liên Tự trước khi hồi sinh thành công trong sự kiện Ten Desires.

Trong khi đó ở thế giới bên ngoài, Phật giáo đã trở thành tôn giáo nắm vai trò độc tôn trong cả ngàn năm về sau ở Nhật Bản.

Nghi vấn và giả thuyết[sửa]

※ Cảnh báo: Tất cả thông tin trong mục này, ngoại trừ các bằng chứng, đều không hề mang tính chính thức. ※
Về hình mẫu tạo nên nhân vật

Trong quá khứ tộc Mononobe đã gây ra cuộc chiến với tộc Soga nhằm loại bỏ Phật giáo, tạo nên cuộc chiến tranh tôn giáo khốc liệt bậc nhất trong lịch sử Nhật Bản. Vào thời điểm đó Soga no Umako của tộc Soga và Mononobe no Moriya của tộc Mononobe là hai thân tín có sức ảnh hưởng lớn tới Thiên Hoàng Bidatsu và anh trai ông là Thiên Hoàng Youmei (cha của Thái Tử Shoutoku). Vì cả Youmei và Shoutoku đều ủng hộ Phật giáo, vậy nên cuộc chiến đã kết thúc với sự chiến thắng của tộc Soga, kéo theo cái chết của Moriya và thảm họa diệt tộc Mononobe trong trận chiến tại núi Shigi năm 587.

Trong tộc Mononobe có một người phụ nữ tên là Futsuhime (布都姫), em gái của Mononobe no Moriya. Theo như những gì được viết trong Nihon Shoki (日本書紀) thì cô là vợ của Soga no Umako, mặc dù tên cô chưa từng được đề cập đến. Cũng theo cuốn sách này, Umako đã "vô cớ giết Moriya vì làm theo âm mưu của vợ mình". Rõ ràng cô đã hợp tác với tộc Soga, phản bội anh trai mình và cả tộc Mononobe. Umako và Futsuhime có một đứa con là Tojiko no Iratsume, vốn có thể là nguyên mẫu dùng tạo nên nhân vật Soga no Tojiko trong Touhou. Một số tài liệu lịch sử như Senda Kuji Hongi (先代旧事本紀) thì đưa ra những sự giải thích khác, theo đó Futsuhime đã lấy Thiên Hoàng Sushun và sau đó đã tái giá với Mononobe no Nieko no Muraji (物部多遅麻連), em trai của Mononobe no Moriya và là anh cùng cha khác mẹ của Futsuhime.

Mối quan hệ với MikoTojiko

Phối hợp với giả thuyết về xuất thân của Miko và Tojiko, ta có thể tạo dựng được các mối quan hệ giữa họ trong quá khứ. Theo đó Miko là Thái Tử Shoutoku, Tojiko là Iratsume no Tojiko (刀自古郎女), Futo là Mononobe no Futsuhime (物部布都姫), vậy thì Tojiko là "con" của Futo, còn Futo thì lại là "mẹ vợ" của Miko (trong quá khứ Iratsume no Toziko đã kết hôn với Thái Tử Shoutoku).

Vai trò[sửa]

※ Cảnh báo: Tiết lộ cốt truyện. ※

Các mối quan hệ[sửa]

Toyosatomimi no Miko

Trong cả quá khứ lẫn hiện tại, Futo là hầu cận trung thành của Miko.

Soga no Tojiko

Họ là đồng minh và cũng đồng thời là hai hầu cận của Miko. Nhưng có vẻ như Futo không thích Tojiko cho lắm, thể hiện qua việc cô khiến cho Tojiko không thể trở thành một thi giải tiên mà phải trở thành một oán linh. Nguyên nhân của việc này có thể xuất phát từ những mối hận thù trong quá khứ khi tộc Soga của Tojiko giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh Phật giáo còn tộc Mononobe của Futo thì hoàn toàn bị tiêu diệt.

Hiện tại có vẻ mối quan hệ giữa hai người họ đã trở nên hòa hảo hơn trước đây. Mặc dù đôi khi họ vẫn cãi nhau.[cần dẫn nguồn]

Kaku SeigaMiyako Yoshika

Hai người họ cũng là đồng minh của Miko, do đó hẳn là họ có quen biết Futo.

Kumoi Ichirin

Cũng như Miko và Byakuren, Futo và Ichirin đã gác bỏ mọi tư thù để hợp tác cùng nhau trong sự kiện Antinomy of Common Flowers. Khác với bề trên của mình, Futo và Ichirin luân phiên làm chủ trong cặp chiếm hữu hoàn hảo của họ. Tuy họ đã trở nên thân thiết trong quá trình chiến đấu cùng nhau, thất bại trước cặp đôi bậc nhất gian tà đã làm mối quan hệ giữa hai người rạn nứt khi họ đổ thừa nguyên nhân thua cuộc cho người còn lại.

Các đòn đánh[sửa]

Spell card[sửa]

Bên lề[sửa]

Okiku.
  • Trang phục của cô giống với trang phục dạng nam của ShinGyoku.
  • Trong Urban Legend in Limbo, truyền thuyết hiện đại của Futo là câu chuyện về "chiếc đĩa của dinh thự Banchou".
    • Câu chuyện kể về một người tỳ nữ tên Okiku phục vụ cho một vị samurai. Vị samurai này có tình ý với Okiku, nhưng bị cô nhiều lần cự tuyệt. Thế là ông đã lừa cô rằng cô đã làm mất một chiếc đĩa quý. Okiku bị oan, cô quyết đếm lại những chiếc đĩa nhưng bất kể cô cố thế nào thì vẫn luôn thiếu mất một cái. Đây là tội chết, và vị samurai tin rằng cô sẽ phải chịu khuất phục để giữ mạng sống, nhưng Okiku vẫn cự tuyệt. Thế là vị samurai đã ném cô xuống giếng. Okiku trở thành một oán linh và ám lấy dinh thự của ông. Đêm đêm tiếng cô đếm những chiếc đĩa vang lên, và khi không tìm thấy chiếc thứ mười cô lại gào khóc trong đau đớn.
    • Theo một vài dị bản, để đuổi oán linh của Okiku đi, vị thầy cúng (hoặc một người hàng xóm) đã hét lên "mười" thật to. Khi đó Okiku tin rằng chiếc đĩa thứ mười đã được tìm ra, và không còn ám vị samurai đó nữa.
  • Khi chọn cặp Futo và Ichirin trong chế độ giao đấu của Antinomy of Common Flowers, Futo và Ichirin có hoạt cảnh mở màn đặc biệt dành riêng cho họ. Trong lúc đó, cả hai cố gắng vật nhau giành quyền làm chủ trong cặp chiếm hữu hoàn hảo, và nhân vật được người chơi chọn làm chủ từ trước sẽ đẩy bật người kia ra khỏi màn hình.

Fandom[sửa]

※ Cảnh báo: Bất kỳ chi tiết nào được mô tả trong mục này đều hoàn toàn là hư cấu và không phải là các thông tin chính thức của nhân vật ※

Thông tin cá nhân[sửa]

Thư viện ảnh[sửa]

Game

Sprite[sửa]

Chú thích[sửa]