Touhou Project

Từ Touhou Wiki - Việt Nam
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
東方Project
Touhou Project
to̞ːho̞ː pɺ̠o̞d͡ʑʲe̞ct, to̞ːho̞ː pɯᵝɺ̠o̞d͡ʑʲe̞kɯᵝto̞
Toho Project, Touhou Series, Project Shrine Maiden
Năm hoạt động

1996-hiện tại

Số trò chơi
  • 27 bản
Sê-ri con
Trang web chính thức

Touhou Project (東方Project, Dự án Đông Phương), còn được biết dưới tên 東方プロジェクト (Touhou Purojekuto) hoặc là Project Shrine Maiden, là một sê-ri game doujin chuyên về mảng bắn máy bay phát triển bởi độc nhất một thành viên của Team Shanghai AliceZUN. Tổng quát nhất, đây là một sê-ri game bắn máy bay màn hình dọc 2D (với ảnh nền 3D), đồng thời cũng có các ấn phẩm và CD nhạc liên quan. Ngoài ra, Touhou Project có 5 game đối kháng của Twilight Frontier hợp tác cùng Team Shanghai Alice gọi là "game hành động danmaku". Các sản phẩm của Touhou Project đôi lúc còn được gọi là Touhou Series (東方シリーズ Tōhō shirīzu).

Kỉ lục Guinness Thế giới đánh giá Touhou Project là "sê-ri game bắn máy bay do fan sản xuất phong phú nhất thế giới".[1]

Thông tin tổng quát[sửa]

Bối cảnh[sửa]

Bối cảnh của Touhou Project là một vùng đất ở Nhật Bản với tên gọi Ảo Tưởng Hương (幻想郷 Gensōkyō, Vùng đất Huyễn tưởng), bị phong ấn khỏi thế giới bên ngoài bởi Bác Lệ Đại Kết Giới. Hakurei Reimu là nhân vật chính của sê-ri, sống ở Bác Lệ Thần Xã nằm trên đường ranh giới. Cô ta, cùng với nhân vật phụ là Kirisame Marisa, điều tra và giải quyết các dị biến xảy ra khắp vùng đất phần lớn do yêu quái gây nên.

Ảo Tưởng Hương chủ yếu do con ngườiyêu quái định cư ở các khu vực khác nhau. Con người chủ yếu sinh sống tại Nhân Thôn trong khi yêu quái có thể tìm thấy ở mọi nơi như ở Núi Yêu Quái, Rừng Ma ThuậtMa Giới. Các chủng loài sinh sống nơi đây gồm ma pháp sư, hấp huyết quỷ, u linh, thiên cẩu, nhân ngưhà đồng. Ngoài ra cũng có một số chủng loài có thể được tính là yêu quái tuỳ thuộc vào định nghĩa như tiên nữ, tinh linh, oán linh, tao linh, tiên nhân, quỷthần.

Ở dòng PC-98, Ảo Tưởng Hương được gọi là "Đất nước Phương Đông". Trước khi câu chuyện của Touhou Project bắt đầu, ở nơi đây có vô vàn yêu quái cùng một số con người định cư. Sau khi một vài người lạc vào Ảo Tưởng Hương, con người dần sợ hãi việc đi đến vùng đất này, mặc dù một số khác định cư ở đây để trừ yêu. Nhưng, theo dòng thời gian, con người dần hình thành nên một nền văn minh và dân số tăng vượt bậc, và vì thế, loài yêu quái trở nên lo lắng về sự mất cân bằng giữa nhân và yêu. Vì thế, 500 năm trước dị biến trong EoSD, Yakumo Yukari đã tạo nên "ranh giới giữa vật chất và hư ảo" để duy trì sự cân bằng. Đây được gọi là "Dự án Phát triển Yêu quái" và biến Ảo Tưởng Hương thành thế giới huyễn tưởng kêu gọi loài yêu quái suy tàn từ thế giới bên ngoài. Những thứ khác biến mất khỏi thế giới bên ngoài như động vật tuyệt chủng, đồ vật và kiến trúc thất lạc dần xuất hiện ở Ảo Tưởng Hương. Vì Ảo Tưởng Hương là một vùng đất tại Nhật Bản bị ngăn cách bởi kết giới, Nhật Bản nằm bên ngoài kết giới này.

Hệ quả của kết giới là Ảo Tưởng Hương trở nên cô lập khỏi thế giới bên ngoài, cư dân ở hai bên không thể bước qua thế giới còn lại. Thế giới ngoài không thể xác thực sự tồn tại của Ảo Tưởng Hương và ngược lại. Vì thế, cộng đồng bị cô lập tự phát triển một nền văn minh khác biệt so với thế giới bên ngoài. Dù bị một tấm kết giới ngăn cách, Ảo Tưởng Hương giáp ranh với thế giới bên ngoài, không phải tồn tại trong một vũ trụ song song. Ở Ảo Tưởng Hương không có biển vì vùng đất này là vùng núi nằm trong đất liền.

Ở Ảo Tưởng Hương hiện tại trong các bản Touhou từ EoSD, khác hẳn với với các hiện tượng phi khoa học bị cho là "mê tín dị đoan" dưới thời Minh Trị, ma thuật và các giá trị tinh thần vẫn tồn tại. Cánh cổng duy nhất liên kết thế giới bên ngoài và Ảo Tưởng Hương là Bác Lệ Thần Xã. Luật spell card cũng được thiết lập để duy trì mối quan hệ giữa nhân và yêu vốn là yêu cầu cần thiết để duy trì sự cân bằng trong Ảo Tưởng Hương. Bác Lệ Đại Kết Giới, được cai quản bởi Reimu, được dựng nên vào năm 1885, vốn được miêu tả là "kết giới của lẽ thường" và là một kết giới lô-gíc ngay cả yêu quái cũng không thể nào vượt qua. Ban đầu, loài yêu quái phản đối việc dựng kết giới, nhưng họ dần hiểu công dụng của nó.

Sự kiện trong game[sửa]

Trong Ảo Tưởng Hương, dị biến, vốn là một sự kiện ảnh hưởng toàn thể nơi đây bởi nguồn cơn bí ẩn, đôi lúc xảy ra.[2] Touhou chủ yếu tập trung vào các dị biến trong nội dung câu chuyện, nhưng có một số bản game như MoF nói về các sự kiện khác nhau ngoài dị biến.

Thông thường dị biến xảy ra do mưu đồ hoặc tính hiếu kì của yêu quái, và thường thì Reimu (và trong một số số trường hợp, nhưng nhân vật khác như Marisa) sẽ điều tra và trừng trị kẻ chủ mưu. Khi một dị biến lớn xảy ra, u linh và tiên nữ bị ảnh hưởng bởi dị biến, và bởi kẻ chủ mưu, trở nên mạnh mẽ trong suốt dị biến, vì thế trong một số tình huống, một tiên nữ bình thường cũng có thể đánh bại Reimu. Ngoài ra, một số nguồn tin ghi chú rằng người làng cũng bắt tay vào giải quyết dị biến.[3]

Touhou Project sử dụng Công lịch, nhưng vì mặt trăng quan trọng với yêu quái, trong Ảo Tưởng Hương có âm dương lịch yêu quái, và dù không được sử dụng nhiều trừ một số yêu quái, nó xuất hiện chủ yếu trong ấn phẩm có ngày tháng như Bohemian Archive in Japanese Red. Hệ thống lịch này không chỉ đơn thuần ghi chú về chu kì mặt trăng, mà còn ghi chú về màu sắc ánh trăng và kích thước mặt trăng nhìn từ Trái Đất. Ngoài ra, hệ thống lịch này có tháng nhuận thứ 13 gọi là Uruu. Độ chia nhỏ nhất của lịch này là tháng, và một chu kì của lịch này kéo dài 60 năm, mỗi năm được gọi là một mùa.[4] EoSD xảy ra vào mùa thứ 118, PCBIaMP xảy ra vào mùa thứ 119, và PoFV diễn ra vào mùa thứ 120. "Biên niên sử Ảo Tưởng Hương" ra mắt công chúng vào mùa thứ 121. Bộ lịch được sắp xếp sao cho kết thúc của Chiến tranh Thế giới lần 2 diễn ra vào mùa thứ 60.

Tên gọi và khái niệm[sửa]

Touhou (東方 Đông Phương) mang nghĩa là phương đông, ám chỉ một phần hoặc toàn bộ các lĩnh vực, văn hoá hoặc lịch sử của vùng Đông Á. Trước kia, với người Châu Âu, thuật ngữ "Orient" chủ yếu được sử dụng trong thương mại, văn học, nghệ thuật hoặc những chủ đề liên quan đến các nước thuộc Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Việt Nam. "Project Shrine Maiden" là thuật ngữ tiếng Anh chính thức sử dụng cho sê-ri Touhou, nhưng cộng đồng nói tiếng Anh vẫn sử dụng "Touhou Project" như người Nhật. Tương tự Nhật Bản, dòng game này thường được cộng đồng Việt Nam gọi là Touhou Project. Ngoài ra, dòng game cũng được gọi là tàu hũ theo cách phát âm sai lệch của chữ Touhou (vốn phiên âm là Tô-hô). Theo phòng nhạc của Mystic Square, cách đặt tên 東方OOO bắt nguồn từ một trong số những bản nhạc đầu tiên của của ZUN viết cho Highly Responsive to Prayers, tên Touhou Kaikidan (東方怪奇談 Đông Phương Quái Ỷ Đàm). Trừ một số trường hợp ngoại lệ, tựa đề game/ấn phẩm/CD nhạc của Touhou đều sử dụng biểu mẫu cho trong bản dưới:

Biểu mẫu: Đề mục tiếng Nhật Khoảng trắng 2 byte Dấu ngã 2 byte Khoảng trắng 1 byte Phụ để tiếng Anh Dấu chấm 1 byte
Ví dụ: 東方紅魔郷 ' ' '' ' ' the Embodiment of Scarlet Devil '.'

Định danh[sửa]

Ở cộng đồng Nhật Bản cùng với Trung Quốc và Hàn Quốc, các tựa thường được gọi bằng đề mục chính thức bỏ chữ Touhou (VD: 紅魔郷 (Koumakyou Hồng Ma Hương) cho 東方紅魔郷 (Đông Phương Hồng Ma Hương) ~ the Embodiment of Scarlet Devil). Mặt khác, chữ kanji/hanzi/hanja được sử dụng để viết tắt (VD: 紅 (Hồng)). Tuy vậy, vẫn có một số ngoại lệ:

  • Hisoutensoku → 天則 (Tensoku Thiên Tắc) or 則 (soku Tắc)
  • Double Spoiler → DS
  • Fairy Wars → Thường là 大戦争 (Daisensou Đại Chiến Tranh); nếu cần viết tắt, chỉ sử dụng chữ 大 (Đại)
  • Bohemian Archive in Japanese Red → 書籍文花帖 (Bunkachou Văn Hoa Thiếp)
  • Perfect Memento in Strict Sense → (trước SoPm) 求聞 (Gumon Kiến Độ), (sau SoPm) 史記 (Shiki Sử Kí)
  • The Grimoire of Marisa → グリモア (Gurimoa)
  • Symposium of Post-mysticism → 口授 (Kuju Khẩu Thụ)
  • Curiosities of Lotus Asia → 香霖堂 (Kourindou Hương Lâm Đường)
  • Silent Sinner in Blue → 儚月抄 (Bougetsushou Manh Nguyệt Sao)
  • Cage in Lunatic Runagate → 小説抄 (Shou Tiểu Thuyết Sao)
  • Inaba of the Moon and Inaba of the Earth → Thường được gọi là うどんげっしょー (Udon Gesshou)
  • Đĩa nhạc được gọi bằng tựa tiếng Nhật đầy đủ, và CD nhạc Sangetsusei được gọi là "三月精 (Tam Nguyệt Tinh)" (Sangetsusei) + số tập

Ở cộng đồng phương Tây, phụ đề tiếng Anh được sử dụng (VD. the Embodiment of Scarlet Devil). Ngoài ra, các tên viết tắt không chính thống cũng được dùng (VD: EoDS). Chữ "the" đôi lúc bị lược bỏ trong các game cũ, nhưng luôn được sử dụng trong các game mới hơn. Với các đề mục không có phụ đề tiếng Anh, đề mục gốc có thể được sử dụng với trường hợp của Touhou Hisoutensoku (Soku) và The Grimoire of Marisa (GoM) hoặc bởi bản dịch của phụ đề với trường hợp của Inaba of the Moon and Inaba of the Earth (IotMaIotE).

Ở cộng đồng Việt Nam, do ảnh hưởng của wiki tiếng Anh, cách gọi tên các game/ấn phẩm/CD cũng tương tự với cộng đồng phương Tây như đã đề cập ở trên. Mặt khác, các sản phẩm Touhou cũng được gọi bằng tên phiên âm Hán Việt của tựa đề tiếng Nhật (với game và ấn phẩm) hoặc bản dịch tiếng Việt của tựa đề tiếng Nhật (với CD nhạc của ZUN về Renko và Maribel cùng với Dolls in Pseudo Paradise), nhưng cách này hiếm khi sử dụng. Một cách thông dụng khác để định danh các game Touhou là sử dụng số phần game (VD: 東方紅魔郷 (Đông Phương Hồng Ma Hương) ~ the Embodiment of Scarlet Devil được gọi là Touhou 6).

Chú thích[sửa]