Khác biệt giữa các bản “Moriya Suwako”

Từ Touhou Wiki - Việt Nam
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
(Quá khứ)
Dòng 5: Dòng 5:
 
| nameAlt =  
 
| nameAlt =  
 
| image = [[File:Th10Suwako.png|x360px|Moriya Suwako]]
 
| image = [[File:Th10Suwako.png|x360px|Moriya Suwako]]
| caption = Suwako trong [[Touhou Hisoutensoku]]
+
| caption = Suwako trong [[Mountain of Faith]]
 
| chartitle = {{H:title|Vị thần bản địa tối cao|土着神の頂点}}
 
| chartitle = {{H:title|Vị thần bản địa tối cao|土着神の頂点}}
 
| species = [[Thần linh]]
 
| species = [[Thần linh]]
Dòng 326: Dòng 326:
  
 
==Thư viện ảnh==
 
==Thư viện ảnh==
<gallery>File:Th10Suwako.png|Suwako trong [[Mountain of Faith]]
+
<gallery>File:Th123Suwako.png|Suwako trong [[Touhou Hisoutensoku]]
 +
File:19Suwako1.png|Suwako trong ''[[Touhou Hisoutensoku]]''
 +
File:19Suwako2.png|Suwako trong ''[[Touhou Hisoutensoku]]''
 
File:IMIESuwako.png|Suwako trong [[Inaba of the Moon and Inaba of the Earth]]
 
File:IMIESuwako.png|Suwako trong [[Inaba of the Moon and Inaba of the Earth]]
 
File:ThGK_Bunbunmaru9.jpg|Suwako trong [[Symposium of Post-mysticism]]
 
File:ThGK_Bunbunmaru9.jpg|Suwako trong [[Symposium of Post-mysticism]]
 +
File:Th123SuwakoColors.png|Bảng pha màu của Suwako trong ''[[Touhou Hisoutensoku]]''
 
File:Th123SuwakoSigil.png|Biểu tượng của Suwako trong [[Touhou Hisoutensoku]]</gallery>
 
File:Th123SuwakoSigil.png|Biểu tượng của Suwako trong [[Touhou Hisoutensoku]]</gallery>
 +
 
==Sprite==
 
==Sprite==
 
{{Sprite
 
{{Sprite

Phiên bản lúc 11:37, ngày 14 tháng 12 năm 2018

洩矢 (もりや)  諏訪子 (すわこ)
Moriya Suwako
Moriya Suwako
Suwako trong Mountain of Faith
Vị thần bản địa tối cao
Phiên âm:
moɽʲija sɯwako (♫)
Chủng loài:
Tuổi:
Tồn tại rất lâu từ trước cuộc chiến với người Yamato, diễn ra từ hơn 2300 năm về trước
Năng lực:
Kiến tạo đất
Nghề nghiệp:
Nơi sinh sống / hoạt động:
~o0o~

Moriya Suwako (洩矢 諏訪子 Moriya Suwako) là một thần linh. Trong quá khứ cô từng sống ở thế giới bên ngoài và là chủ nhân của Thủ Thỉ Thần Xã, tuy nhiên cô đã thất bại trong cuộc chiến với người Yamato và ngôi đền của cô đã được Yasaka Kanako tiếp quản. Cô xuất hiện lần đầu trong Mountain of Faith.




Thông tin[sửa]

Suwako là một thần linh. Không như Kanako vốn có bản chất là một hồn thiêng, Suwako là một trong Bát Bách Vạn Thần, tức tám trăm vạn vị thần của Thần giáo, có nghĩa là cô chỉ được tạo nên từ đức tin thuần túy, và do đó cô gặp rắc rối nhiều hơn Kanako khi đối mặt với vấn đề thiếu đức tin.

Mặt khác Suwako còn là một vị thần bản địa, có nghĩa là ở trong lãnh địa của mình cô có rất nhiều đức tin và đạt được sức mạnh rất lớn, nhưng hiện tại cô đã rời khỏi lãnh địa để đi vào Ảo Tưởng Hương.

Cô cùng với Kanako được mô tả là những vị thần có cơ thể thực sự [2], có nghĩa là họ có thể hành động và di chuyển mà không cần vật chứa. Mặt khác khi được lập đền hoặc được triệu hồi ở đâu đó họ vẫn có thể tách một phần linh hồn mình ra để đáp ứng lời kêu gọi.

Tính cách[sửa]

Không như Kanako rất tích cực trong việc thu thập đức tin và gây dựng các mối quan hệ. Suwako là một vị thần hết sức bí ẩn, cô gần như không hề bước chân ra khỏi đền, cũng như không hề làm gì để thu thập đức tin. Thoạt nhìn, tính cách của cô có vẻ khá vui tính, nhưng rất khó để biết cô đang nghĩ gì. Không giống Kanako, nếu Suwako làm gì đó trong lúc thiếu suy nghĩ thì bạn sẽ rất khó ứng phó [1]. Sự khó đoán khiến cô khá nguy hiểm đối với con người.

Cô dường như chỉ thích những con ếch, và có thể ra tay trừng phạt bất kỳ ai phàn nàn về chúng.

Năng lực[sửa]

Năng lực kiến tạo đất

Kanako có năng lực kiến tạo "đất" ( kun, "Khôn"), ngược lại với Kanako, người có năng lực kiến tạo "trời" ( qian, "Càn"). Khôn (), đại diện cho đất, là một trong tám quẻ của bát quái, đại diện cho hướng bắc (theo Tiền Thiên Bát Quái) hoặc hướng tây nam (theo Hậu Thiên Bát Quái), người mẹ, sự tiếp thu, sự tận tụy.

Biểu tượng của Suwako trong Grimoire of Marisa.

Bằng cách phối hợp với Kanako, Suwako có thể thay đổi địa hình cũng như tạo ra một hố lớn thông xuống lòng đất. Dù nói là phối hợp, có vẻ như việc thay đổi địa hình chủ yếu vẫn là do Suwako làm [1] thông qua tà thần. Không chỉ có thể thấy đổi địa hình, cô còn có thể khiến đất đai trở nên màu mỡ để trồng trọt cũng như dễ dàng biến nó trở thành những vùng đất cằn cỗi không loài cây nào mọc được. Đây cũng là một trong những năng lực khác của tà thần.

Ban phúc

Cũng như mọi thần linh khác, việc dâng đức tin cho Suwako giúp bạn được ban phúc, ngoài việc ban phúc bằng năng lực của Mishaguji (sẽ được nói đến ở dưới), một vài kiểu ban phúc khác của Suwako là: khiến người ta đi đường bình an, phát tài, hoặc trở nên đẹp hơn [1].

Điều khiển tà thần

Suwako có khả năng điều khiển các tà thần, với tên gọi là Lãnh Chúa Mishaguji, và chỉ có cô điều khiển được chúng mà thôi. Cũng như Suwako, Mishaguji cũng là thần bản địa. Người có khả năng khiến hạt giống nảy mầm ở bất cứ nơi nào người đi qua, nhưng hơi thở của người thì có thể khiến cả một vùng đất đai trở nên cằn cỗi [1].

Spell card
Ảnh minh họa spell card của SuwakoGrimoire of Marisa.

Các spell card của Suwako có một số liên quan tới các kỳ quan của đền Suwa, ví dụ như Native God "Seven Stones and Seven Trees". Nhiều spell của cô có tựa là "thần bản địa" (土着神 Dochaku Shin). Trong các spell card của mình, một trong những hình dạng danmaku phổ biến của cô là những vòng danmaku lồng nhau màu đỏ, chính là tượng trưng cho những vòng sắt của Suwako, thứ có thể nói là vũ khí đặc trưng của cô. Ngoài ra cô còn dùng những loại danmaku hình hạt gạo màu xanh dương, tượng trưng cho nước, và màu xanh lục, tượng trưng cho dòng Itoi-gawa.

Trong các đòn đánh của mình, Suwako sử dụng nhiều đòn đánh biến đổi đất (đá, bùn) để trở thành thực thể tấn công đối thủ. Cô cũng cho thấy khả năng di chuyển tự do trong lòng đất. Cuối cùng trong các đòn đánh mạnh nhất của mình, cô sử dụng Mishaguji để tấn công.

Sở hữu[sửa]

Suwako sở hữu một lượng lớn các vòng sắt của Moriya, chúng là những vũ khí được cô sử dụng có lẽ là từ thời xa xưa khi mà cuộc chiến Suwa diễn ra. Suwako sử dụng chúng như một loại danmaku.

Thiết kế[sửa]

Tên gọi[sửa]

Ý nghĩa những chữ trong họ Moriya:

  • mo (, "Duệ", nghĩa là "giảm bớt").
  • riya (, "Thỉ", nghĩa là "mũi tên").

Họ của cô có thể liên quan tới thần Moreya (洩矢神 Moreya-shin, moreya là cách phát âm cổ của moriya). Moriya Sanae (守矢早苗), người đứng đầu đời thứ 78 của tộc Moriya, tự nhận mình là hậu duệ của thần Moreya, đây cũng là nhân vật được cho là hình mẫu để tạo ra Kochiya Sanae.

Ý nghĩa những chữ trong tên Suwako:

  • su (, "Tưu").
  • wa (, "Phóng", nghĩa là "dò xét").
  • ko (, "Tử", nghĩa là "đứa con", ngoài ra đây cũng là một hậu tố thường xuất hiện trong tên của phụ nữ).

Tên của Suwako là chơi chữ của cách đọc hồ Suwa (諏訪湖 Suwa-ko).

Ngoại hình[sửa]

Mountain of Faith

Suwako có ngoại hình nhỏ nhắn như một cô bé. Cô có mắt màu vàng nâu, tóc dài tới vai màu vàng, phía trước thắt hai dải tóc bằng dây buộc màu đỏ. Cô mặc bộ váy áo ngắn màu tím nhạt và có họa tiết hình những con ếch. Những họa tiết này được lấy từ tác phẩm Chōjū-giga (鳥獣戯画). Áo trong cô mặc màu trắng, tay áo dài và ống tay áo rộng. Cô mang tất chân dài màu trắng và giày đen. Cô đội một chiếc nón kỳ lạ có vành tròn và phía trên gắn hai vật hình cầu màu trắng chấm đen trông như một cặp mắt ếch. Trong khi chiếc mũ trông có vẻ hẹp hơn về phần đỉnh, trong Hopeless Masquerade nó lại có dạng như hình trụ.

Khi một phần linh hồn cô được lập đền thờ, cô sẽ xuất hiện trong hình dạng của một con ếch. Tuy nhiên không nên nhầm lẫn cô với một vị thần ếch.

Quá khứ[sửa]

Trong quá khứ Suwako là một vị thần bản địa người cai trị một vương quốc cùng với những tà thần được gọi là Mishaguji. Nhưng sau đó đất nước của cô đã bị xâm lược bởi người Yamato, và một trong những chỉ huy của họ là Kanako. Suwako đã chống trả bằng những vũ khí bằng sắt tốt nhất thời đó. Nhưng Kanako đã dùng một sợi dây leo mỏng làm gỉ sét hết toàn bộ vũ khí bằng sắt của Suwako, khiến cô phải thừa nhận thất bại. Mặc dù vậy người dân ở vùng Moriya rất khó chấp nhận vị thần mới đến này, vậy nên Kanako đã mượn sức mạnh của Suwako để cai trị người dân. Vậy nên cuối cùng Kanako là vị thần của vùng này trên danh nghĩa, nhưng Suwako vẫn là vị thần thực sự của nơi đây.

Chương 19 của Silent Sinner of Blue có đề cập tới chi tiết trong đó ngụ ý là chính người Mặt Trăng là những người đã phong ấn vị thần ở đền Moriya (Suwako) bằng chú liên thừng, nhưng không rõ cô có biết về việc này không.

Nghi vấn và giả thuyết[sửa]

※ Cảnh báo: Tất cả thông tin trong mục này, ngoại trừ các bằng chứng, đều không hề mang tính chính thức. ※
Về hình mẫu tạo ra nhân vật Suwako

Suwako được cho là có hình mẫu lấy từ Moreya-no-kami (洩矢神, hay Moreya-shin như đã đề cập ở trên). Không chỉ liên hệ từ họ của Suwako, Moreya-no-kami còn có liên hệ với Yasakatome, người được cho là hình mẫu để tạo nên nhân vật Kanako. Trong đó Takeminakata-no-kami, chồng của Yasakatome, là người đã dùng một sợi dây tử đằng để đánh bại Moreya-no-kami, giống như Kanako dùng sợi dây leo để đánh bại Suwako vậy. Đền Suwa của Moreya-no-kami và đền của Yasakatome được dựng đền ở hai bên bờ hồ Suwa, lý giải sự xung đột giữa họ.

Vai trò[sửa]

※ Cảnh báo: Tiết lộ cốt truyện. ※





Các mối quan hệ[sửa]

Yasaka Kanako

Kanako là một trong những vị thần khác của Thủ Thỉ Thần Xã, và là người điều hành nơi đây, ít nhất là ở ngoài mặt. Trong quá khứ Kanako đã đến xâm chiếm vùng đất nơi Suwako sinh sống, và dù giành chiến thắng, sau cùng cô vẫn phải nhờ Suwako để tiếp tục cai trị người dân nơi đây. Mối quan hệ giữa họ hiện tại rất tốt, tuy nhiên họ cũng thường hay cãi nhau.

Kochiya Sanae

Sanae là vu nữ người thờ phụng Suwako, tuy nhiên bản thân cô cũng là một hiện nhân thần, và có thể coi như một vị thần. Sanae là hậu duệ xa của Suwako, mặc dù cho tới sự kiện trong Subterranean Animism cô mới biết về điều này.

Mishaguji

Mishaguji là những tà thần mà chỉ có Suwako là điều khiển được. Cũng như Suwako chúng là các thần bản địa.

Hisoutensoku

Suwako được ngụ ý là có tham gia trong quá trình tạo ra Hisoutensoku cùng với hà đồng.

Spell Card[sửa]

Bên lề[sửa]

  • Bản nhạc nền "Native Faith" của cô là một sự tôn kính với bản nhạc nền "Boss6", được sử dụng trong game shooting Night Striker (ナイトストライカー) của Taito, phát hành năm 1989.
  • Spell card mạnh nhất của Suwako trong Touhou Hisoutensoku, Scourge God "Mishaguchi-sama", được dựa theo đòn Shun Goku Satsu của nhân vật Akuma trong sê-ri game nổi tiếng Street Fighter.
  • Trong Touhou Hisoutensoku cô có một bản màu thay thế giống với Hina, và một bản màu khác giống với Maybell, một nhân vật do fan tạo ra.
  • Trong Touhou Hisoutensoku động tác của Suwako có liên hệ với ếch, trong đó thấy rõ nhất là cách cô ngồi xổm và "nhảy" khi bấm nút lướt.

Fandom[sửa]

※ Cảnh báo: Bất kỳ chi tiết nào được mô tả trong mục này đều hoàn toàn là hư cấu và không phải là các thông tin chính thức của nhân vật ※

Thông tin cá nhân[sửa]



Thư viện ảnh[sửa]

Sprite[sửa]

Th10SuwakoSprite.png
Sprite của Suwako trong Subterranean Animism
Th135Suwako.png
Sprite của Suwako trong Hopeless Masquerade

Nguồn[sửa]

Game
Ấn phẩm

Chú thích[sửa]