Khác biệt giữa các bản “Kaenbyou Rin”

Từ Touhou Wiki - Việt Nam
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
(Bên lề)
 
(Không hiển thị 4 phiên bản của 3 người dùng ở giữa)
Dòng 6: Dòng 6:
 
| nameAlt =  
 
| nameAlt =  
 
| image = [[File:Th11Rin.png|x360px|Kaenbyou Rin]]
 
| image = [[File:Th11Rin.png|x360px|Kaenbyou Rin]]
| caption = Rin trong [[Subterranean Animism]]
+
| caption = Rin trong ''[[Subterranean Animism]]''
 
| chartitle = {{H:title|Tai họa giao thông của Địa Ngục|地獄の輪禍}}
 
| chartitle = {{H:title|Tai họa giao thông của Địa Ngục|地獄の輪禍}}
 
| nickname = {{nihongo|Orin|お{{ruby-ja|燐|りん}}||}}
 
| nickname = {{nihongo|Orin|お{{ruby-ja|燐|りん}}||}}
 
| species = [[Hỏa xa]]
 
| species = [[Hỏa xa]]
 
| abilities = Mang xác chết đi, giao tiếp và điều kiển linh hồn
 
| abilities = Mang xác chết đi, giao tiếp và điều kiển linh hồn
| location = *[[Địa Linh Điện]]
+
| location ={{hidden}}
 +
*[[Địa Linh Điện]]
 
*[[Hỏa Địa Ngục]]
 
*[[Hỏa Địa Ngục]]
 
| occupation = Quản lý các linh hồn ở tàn tích của Hỏa Địa Ngục
 
| occupation = Quản lý các linh hồn ở tàn tích của Hỏa Địa Ngục
 
}}
 
}}
{{nihongo|'''Kaenbyou Rin'''|火焔猫 燐|Kaenbyou Rin}} là một [[hỏa xa]] sống ở [[Thế giới ngầm]]. Cô xuất hiện lần đầu trong [[Subterranean Animism]].
+
{{nihongo|'''Kaenbyou Rin'''|火焔猫 燐|Kaenbyou Rin}} là một [[hỏa xa]] sống ở [[Thế giới ngầm]]. Cô xuất hiện lần đầu trong ''[[Subterranean Animism]]''.
<div class="antitoc" style="clear: both"></div>
+
__TOC__
{{hidden begin
+
{{hidden pink|Danh hiệu}}
| title = Danh hiệu
 
| titlestyle = background: #f3b7e1; text-align:center
 
| bodystyle  = border: 2px solid #f3b7e1; clear: both
 
| titleclass = antitoc
 
| bodyclass  = antitoc
 
}}
 
 
{{info card
 
{{info card
 
|{{title
 
|{{title
Dòng 30: Dòng 25:
 
  | vie = Tai họa giao thông của Địa Ngục
 
  | vie = Tai họa giao thông của Địa Ngục
 
<hr><small>Danh hiệu này có thể là một sự chơi chữ, từ {{nihongo|{{lang|ja|輪禍}}|||"luân họa"}} đọc giống từ {{nihongo|{{lang|ja|燐火}}|||"lân hỏa"}}, cùng là ''rinka''. Trong khi "luân họa" có nghĩa là "tai nạn giao thông" thì "lân hỏa" có nghĩa là "ma trơi", liên quan trực tiếp đến Rin.</small>
 
<hr><small>Danh hiệu này có thể là một sự chơi chữ, từ {{nihongo|{{lang|ja|輪禍}}|||"luân họa"}} đọc giống từ {{nihongo|{{lang|ja|燐火}}|||"lân hỏa"}}, cùng là ''rinka''. Trong khi "luân họa" có nghĩa là "tai nạn giao thông" thì "lân hỏa" có nghĩa là "ma trơi", liên quan trực tiếp đến Rin.</small>
  | app = [[SA]]
+
  | app = ''[[SA]]''
<hr>[[SoPM]]
+
<hr>''[[SoPM]]''
 
}}
 
}}
 
{{title
 
{{title
Dòng 37: Dòng 32:
 
  | eng = Corpse Tour Guide
 
  | eng = Corpse Tour Guide
 
  | vie = Hướng dẫn viên du lịch của những xác chết
 
  | vie = Hướng dẫn viên du lịch của những xác chết
  | app = [[DS]]
+
  | app = ''[[DS]]''
 
}}
 
}}
 
{{title
 
{{title
 
  | jap = 背信棄義の死猫
 
  | jap = 背信棄義の死猫
  | eng = / Chưa có bản dịch /
+
  | eng = The Treacherous Deathcat
 
  | vie = Con mèo xảo quyệt của cái chết
 
  | vie = Con mèo xảo quyệt của cái chết
  | app = [[WaHH]] chương 28
+
  | app = ''[[WaHH]]'' chương 28
 
}}
 
}}
 
}}
 
}}
{{hidden end}}<hr>
+
{{hidden end}}
<div class="antitoc" style="clear: both"></div>
+
{{hidden pink|Nhạc nền}}
{{hidden begin
 
| title = Nhạc nền
 
| titlestyle = background: #f3b7e1; text-align:center
 
| bodystyle  = border: 2px solid #f3b7e1; clear: both
 
| titleclass = antitoc
 
| bodyclass  = antitoc
 
}}
 
 
{{music card
 
{{music card
 
|{{music
 
|{{music
 
  | jap = 死体旅行 ~ Be of good cheer!
 
  | jap = 死体旅行 ~ Be of good cheer!
 
  | eng = Corpse voyage ~ Be of good cheer!
 
  | eng = Corpse voyage ~ Be of good cheer!
  | app = [[SA]]
+
| vie = Chuyến du hành của tử thi ~ Hãy vui lên nào!
 +
  | app = ''[[SA]]''
 
}}
 
}}
 
}}
 
}}
{{hidden end}}<hr>
+
{{hidden end}}
{{hidden begin
+
{{hidden pink|Xuất hiện}}
| title = Xuất hiện
 
| titlestyle = background: #f3b7e1; text-align:center
 
| bodystyle  = border: 2px solid #f3b7e1; clear: both
 
| titleclass = antitoc
 
| bodyclass  = antitoc
 
}}
 
 
<center>'''Game'''</center>
 
<center>'''Game'''</center>
 
{{appearance card
 
{{appearance card
 
|{{appearance
 
|{{appearance
  | app = [[Subterranean Animism]]
+
  | app = ''[[Subterranean Animism]]''
 
  | role = Midboss màn 4, 5, 6, boss màn 4, 5
 
  | role = Midboss màn 4, 5, 6, boss màn 4, 5
 
}}
 
}}
 
{{appearance
 
{{appearance
  | app = [[Double Spoiler]]
+
  | app = ''[[Double Spoiler]]''
 
  | role = Cảnh 8-1, 8-3, 8-5, 8-7
 
  | role = Cảnh 8-1, 8-3, 8-5, 8-7
 
}}
 
}}
 
{{appearance
 
{{appearance
  | app = [[Hopeless Masquerade]]
+
  | app = ''[[Hopeless Masquerade]]''
 
  | role = Nhân vật nền
 
  | role = Nhân vật nền
 
}}
 
}}
Dòng 87: Dòng 70:
 
<center>'''Ấn phẩm'''</center>
 
<center>'''Ấn phẩm'''</center>
 
{{appearance card
 
{{appearance card
|{{appearance
+
|
  | app = [[Grimoire of Marisa]]
+
{{appearance
  | role = Bài viết
+
  | app = ''[[Forbidden Scrollery]]''
 +
  | role = Góp mặt chương 4
 
}}
 
}}
 
{{appearance
 
{{appearance
  | app = [[Symposium of Post-mysticism]]
+
  | app = ''[[Oriental Sacred Place]]''
  | role = Bài viết, bài báo
+
  | role = Góp mặt chương 10, 12, 18
 
}}
 
}}
 
{{appearance
 
{{appearance
  | app = [[Oriental Sacred Place]]
+
  | app = ''[[Symposium of Post-mysticism]]''
  | role = Góp mặt chương 10, 12, 18
+
  | role = Bài viết, bài báo
 
}}
 
}}
 
{{appearance
 
{{appearance
  | app = [[Wild and Horned Hermit]]
+
  | app = ''[[The Grimoire of Marisa]]''
  | role = Chương 28, góp mặt chương 2, 20, 23
+
  | role = Bài viết
 
}}
 
}}
 
{{appearance
 
{{appearance
  | app = [[Forbidden Scrollery]]
+
  | app = ''[[Visionary Fairies in Shrine]]''
  | role = Góp mặt chương 4
+
  | role = Góp mặt
 
}}
 
}}
 
{{appearance
 
{{appearance
  | app = [[Visionary Fairies in Shrine]]
+
  | app = ''[[Wild and Horned Hermit]]''
  | role = Góp mặt chương 2
+
  | role = Góp mặt
 
}}
 
}}
 
}}
 
}}
{{hidden end}}<hr>
+
{{hidden end}}
  
 
==Thông tin==
 
==Thông tin==
 +
[[File:WaHHOrin.png|thumb|right|300px|Rin trong chương 28 ''[[Wild and Horned Hermit]]''.]]
 
===Tính cách===
 
===Tính cách===
[[File:WaHHOrin.png|thumb|right|300px|Rin trong chương 28 [[Wild and Horned Hermit]]]]
+
Cô là người có tính cách đơn giản và vui tươi, cô không phải là dạng người hai mặt, và chỉ sống cho hiện tại.<ref name="sopm" /> Trong những lần xuất hiện của mình, Rin cho thấy mình là người hoạt bát và lạc quan, trong ''[[Subterranean Animism]]'' cô không hề có thái độ thù hằn nào khi bị nhân vật chính đánh bại, thậm chí cô còn khen ngợi sức mạnh của họ và vui mừng vì nghĩ rằng họ có thể ngăn được việc bạn cô vượt khỏi tầm kiểm soát.
Cô là người có tính cách đơn giản và vui tươi, cô không phải là dạng người hai mặt, và chỉ sống cho hiện tại <ref name="r1">[[Symposium of Post-mysticism]]: [[Symposium of Post-mysticism/Orin|Kaenbyou Rin]]</ref>. Trong những lần xuất hiện của mình, Rin cho thấy mình là người hoạt bát và lạc quan, trong [[Subterranean Animism]] cô không hề có thái độ thù hằn nào khi bị nhân vật chính đánh bại, thậm chí cô còn khen ngợi sức mạnh của họ và vui mừng vì nghĩ rằng họ có thể ngăn được việc bạn cô vượt khỏi tầm kiểm soát. Cô không thích cái tên dài, và vì thế thích được mọi người gọi bằng biệt danh Orin của mình. Cô yêu thích công việc vận chuyển, chính xác hơn là đánh cắp, xác chết của mình, [[Akyuu]] lý giải nó như một hành vi mèo vờn chuột, chỉ khác là ở đây cô không vờn chuột mà vờn với linh hồn thoát ra từ con người vừa mới qua đời. Cô yêu thích việc trò chuyện với những linh hồn của người đã khuất, có nhiều người không nhận ra là mình đã qua đời mà vẫn nói những chuyện rất bình thường như ngày mai họ sẽ làm gì. Ngược lại cô không thích trò chuyện với những người bị yêu quái sát hại, vì họ sẽ "không còn thú vị nữa" <ref name="r1"></ref>. Đây là nguyên nhân mà cô không thích ra tay giết người để lấy xác. Trong khi cô luôn thích cướp những xác chết ngay giữa tang lễ, cô có vẻ không có hứng thú với những cái xác đã được chôn cất yên ổn.
+
 
 +
Cô yêu thích công việc vận chuyển, chính xác hơn là đánh cắp, xác chết của mình, [[Akyuu]] lý giải nó như một hành vi mèo vờn chuột, chỉ khác là ở đây cô không vờn chuột mà vờn với linh hồn thoát ra từ con người vừa mới qua đời.{{citation needed}} Cô yêu thích việc trò chuyện với những linh hồn của người đã khuất, có nhiều người không nhận ra là mình đã qua đời mà vẫn nói những chuyện rất bình thường như ngày mai họ sẽ làm gì. Ngược lại cô không thích trò chuyện với những người bị yêu quái sát hại, vì họ sẽ "không còn thú vị nữa".<ref name="sopm" /> Đây là nguyên nhân mà cô không thích ra tay giết người để lấy xác. Trong khi cô luôn thích cướp những xác chết ngay giữa tang lễ, cô có vẻ không có hứng thú với những cái xác đã được chôn cất yên ổn.
 +
 
 +
Cô không thích cái tên dài, và vì thế thích được mọi người gọi bằng biệt danh Orin của mình.
  
 
===Năng lực===
 
===Năng lực===
Mặc dù không có mô tả chính thức, một trong những khả năng dễ thấy nhất của Rin là chuyển đổi hình dáng người và hình dáng mèo. Cô thích ở trong hình dạng mèo hơn, nhưng trong hình dạng này cô sẽ không thể nói chuyện được và cũng không thể thực hiện việc lấy xác người được.
+
Mặc dù không có mô tả chính thức, một trong những khả năng dễ thấy nhất của Rin là chuyển đổi giữa hình dáng người và hình dáng mèo. Cô thích ở trong hình dạng mèo hơn, nhưng trong hình dạng này cô sẽ không thể nói chuyện được và cũng không thể thực hiện việc lấy xác người được.
 +
 
 
;Mang xác chết đi
 
;Mang xác chết đi
Giống như truyền thuyết về các [[hỏa xa]], năng lực của Rin được mô tả là "khả năng mang xác chết đi". Những cái xác này sẽ được dùng làm nguyên liệu cho Hỏa Địa Ngục, còn linh hồn của chúng sẽ trở thành những [[oán linh]] không thể nào được siêu thoát. Cô vận chuyển những xác chết trên chiếc xe của mình, và rất ngạc nhiên khi cô không dùng sức mạnh của yêu quái mà chỉ dùng một số mẹo để thực hiện này, và lại đạt hiệu quả cao đáng ngạc nhiên <ref name="r1"></ref>. Khả năng lẫn vào đám đông và cướp lấy cái xác của Rin tốt một cách đáng ngạc nhiên, trong [[Symposium of Post-mysticism]] có viết nếu không ai nhận ra sự xuất hiện của cô, cái xác sẽ biến mất một cách lặng lẽ ngay giữa tang lễ. Trong chương 28 của [[Wild and Horned Hermit]], Rin táo tợn đến mức xuất hiện và thu thập những viên đá quý ngay giữa nhóm của Reimu, và nếu không phải [[Marisa]] bất ngờ nhận ra sự xuất hiện của cô và bắt cô lại, có thể cô đã thành công và lặng lẽ đi khỏi đó mà không ai biết.
+
Giống như truyền thuyết về các [[hỏa xa]], năng lực của Rin được mô tả là "khả năng mang xác chết đi". Những cái xác này sẽ được dùng làm nguyên liệu cho Hỏa Địa Ngục, còn linh hồn của chúng sẽ trở thành những [[oán linh]] không thể nào được siêu thoát. Cô vận chuyển những xác chết trên chiếc xe của mình, và rất ngạc nhiên khi cô không dùng sức mạnh của yêu quái mà chỉ dùng một số mẹo để thực hiện việc này, và lại còn đạt hiệu quả cao đến đáng ngạc nhiên nữa chứ.<ref name="sopm" />
 +
 
 +
Khả năng lẫn vào đám đông và cướp lấy cái xác của Rin tốt một cách đáng kinh ngạc, trong ''[[Symposium of Post-mysticism]]'' có viết nếu không ai nhận ra sự xuất hiện của cô, cái xác sẽ biến mất một cách lặng lẽ ngay giữa tang lễ.{{citation needed}} Trong chương 28 của ''[[Wild and Horned Hermit]]'', Rin táo tợn đến mức đứng giữa nhóm của Reimu và thu thập những viên đá quý, và nếu không phải [[Marisa]] bất ngờ nhận ra sự xuất hiện của cô và bắt cô lại, có thể cô đã thành công và lặng lẽ đi khỏi đó mà không ai biết.
 +
 
 
;Giao tiếp và điều khiển linh hồn
 
;Giao tiếp và điều khiển linh hồn
Cô có khả năng giao tiếp với xác chết cũng như điều khiển các loại linh hồn. Cô còn chứng tỏ khả năng khiến các xác chết vô tri trở lại hành động như những thây ma. Một năng lực khác nữa của Rin là một cách nào đó ép các oán linh phải tràn lên khỏi mặt đất. Thông tin cá nhân của cô mô tả đây là một cấm thuật, mặc dù không rõ bản thân thuật này là một thuật bị cấm hay nguyên nhân nó bị cấm là vì nó vi phạm hiệp ước không xâm phạm giữa mặt đất và Thế giới ngầm.
+
Cô có khả năng giao tiếp với xác chết cũng như điều khiển các loại linh hồn. Cô còn chứng tỏ khả năng khiến các xác chết vô tri trở lại hành động như những thây ma. Một năng lực khác nữa của Rin là một cách nào đó ép các oán linh phải tràn lên khỏi mặt đất. Thông tin cá nhân của cô mô tả đây là một cấm thuật, mặc dù không rõ bản thân thuật này là một thuật bị cấm hay nguyên nhân nó bị cấm là vì nó vi phạm hiệp ước không xâm phạm giữa mặt đất và [[Thế giới ngầm]].
;Spell card
+
 
[[File:GoMSigil-Orin.jpg|thumb|right|120px|Biểu tượng của Rin trong [[Grimoire of Marisa]]]]
+
;[[Spell card]]
Các chủ đề phổ biến trong spell card của Rin là về linh hồn, nguyền rủa và xác chết. Một số spell card của cô có sự xuất hiện của các [[tiên nữ thây ma]]. Đòn tấn công và spell card của cô sử dụng danmaku hình hạt gạo màu đỏ được bắn theo từng vòng.
+
[[File:GoMSigil-Orin.jpg|thumb|right|120px|Biểu tượng của Rin trong ''[[The Grimoire of Marisa]]''.]]
 +
Các chủ đề phổ biến trong spell card của Rin là về linh hồn, nguyền rủa và xác chết. Một số spell card của cô có sự xuất hiện của các [[tiên nữ thây ma]]. Đòn tấn công và spell card của cô sử dụng danmaku hình hạt gạo màu đỏ và xanh dương được bắn theo từng vòng.
 +
 
 
===Nghề nghiệp===
 
===Nghề nghiệp===
Công việc của cô là điều khiển các oán linh ở khu vực Cựu Địa Ngục, mặc dù người ta nói sự thật là cô chỉ thống kê sự tăng giảm của chúng trong khi để chúng chạy loạn tùy ý <ref name="r5">[[Symposium of Post-mysticism]]: [[Symposium of Post-mysticism/Satori|Komeiji Satori]]</ref>. Rin cũng lấy xác chết để làm nguyên liệu cho ngọn lửa tại tàn tích của Hỏa Địa Ngục mỗi khi cần cho ngọn lửa nóng thêm <ref name="r9">[[Subterranean Animism]]: [[Thông tin cá nhân/Subterranean Animism#Reiuji Utsuho|Thông tin cá nhân của Utsuho trong Subterranean Animism]]</ref>.
+
Công việc của cô là điều khiển các oán linh ở khu vực Cựu Địa Ngục, mặc dù người ta nói sự thật là cô chỉ thống kê sự tăng giảm của chúng trong khi để chúng chạy loạn tùy ý.<ref name="sopmsatori" /> Rin cũng lấy xác chết để làm nguyên liệu cho ngọn lửa tại tàn tích của Hỏa Địa Ngục mỗi khi cần cho ngọn lửa nóng thêm.<ref name="saokuu" />
 +
 
 
=== Sở hữu ===
 
=== Sở hữu ===
Món đồ đặc trưng của Rin chính là chiếc xe đẩy của cô, tên gọi là {{nihongo|"xe mèo của Orin"|お燐の猫車|Orin no nekoguruma|}}. Đây có lẽ là "chiếc xe cút kít chở nhiều xác chết nhất trên thế giới", theo lời [[Akyuu]] <ref name="r1"></ref>. Một trong những mẹo hành động mà Orin sử dụng là "giấu những cái xác ăn trộm trong xe mèo". Và không ai ngờ rằng cô mang những xác chết đó theo một cách công khai trên đường phố. Vì lý do này, cô có thể ngang nhiên ăn cắp bao nhiêu xác chết tùy ý. Trong khi trông như một chiếc xe bình thường, hẳn nó phải có một tác dụng đặc biệt trong việc che dấu các dấu hiệu đặc trưng của một xác chết mới có thể giúp cô tùy ý đẩy xe ở những nơi đông người như vậy. Marisa từng lén mở lớp bạt phủ của chiếc xe lên để xem, và mặc dù ta không biết cô thấy được những gì, vẻ mặt của cô lúc đó không mấy dễ chịu <ref name="r2">[[Wild and Horned Hermit]]: Chương 28</ref>. Trong bài báo về Yoshika, ta có thấy trong chiếc xe của cô là những mẩu xương khác nhau.
+
Món đồ đặc trưng của Rin chính là chiếc xe đẩy của cô, tên gọi là {{nihongo|"xe mèo của Orin"|お燐の猫車|Orin no nekoguruma|}}. Đây có lẽ là "chiếc xe cút kít chở nhiều xác chết nhất trên thế giới", theo lời [[Akyuu]].<ref name="sopm" /> Một trong những mẹo hành động mà Orin sử dụng là "giấu những cái xác ăn trộm trong xe mèo". Và không ai ngờ rằng cô mang những xác chết đó theo một cách công khai trên đường phố. Vì lý do này, cô có thể ngang nhiên ăn cắp bao nhiêu xác chết tùy ý. Trong khi trông như một chiếc xe bình thường, hẳn nó phải có một tác dụng đặc biệt trong việc che dấu các dấu hiệu đặc trưng của một xác chết mới có thể giúp cô tùy ý đẩy xe ở những nơi đông người như vậy. Marisa từng lén mở lớp bạt phủ của chiếc xe lên để xem, và mặc dù ta không biết cô thấy được những gì, vẻ mặt của cô lúc đó không mấy dễ chịu.<ref name="wahh28" />
 +
 
 +
Trong bài báo về [[Yoshika]], ta có thấy trong chiếc xe của cô là những mẩu xương khác nhau.<ref name="sopmyoshika" />
  
 
==Thiết kế==
 
==Thiết kế==
 
===Tên gọi===
 
===Tên gọi===
[[File:ThGKRin.png|thumb|right|225px|Rin trong [[Symposium of Post-mysticism]]]]
+
[[File:ThGKRin.png|thumb|right|225px|Rin trong ''[[Symposium of Post-mysticism]]''.]]
 
Ý nghĩa những chữ trong họ Kaenbyou:
 
Ý nghĩa những chữ trong họ Kaenbyou:
 
*{{nihongo||火|ka|"Hỏa" nghĩa là "lửa"}}.
 
*{{nihongo||火|ka|"Hỏa" nghĩa là "lửa"}}.
 
*{{nihongo||焔|en|"Diệm" nghĩa là "cháy"}}.
 
*{{nihongo||焔|en|"Diệm" nghĩa là "cháy"}}.
 
*{{nihongo||猫|byou|"Miêu" nghĩa là "con mèo"}}.
 
*{{nihongo||猫|byou|"Miêu" nghĩa là "con mèo"}}.
Họ của Rin có thể dịch là "con mèo rực lửa", phù hợp với các đặc điểm của cô là một con mèo sống ở Hỏa Địa Ngục. Ngoài ra chiếc xe cút kít trong tiếng Nhật là {{nihongo||猫車|nekoguruma|"Miêu xa"}}, nghĩa đen là "xe mèo".
+
Họ của Rin có thể dịch là "con mèo rực lửa", phù hợp với các đặc điểm của cô là một con mèo sống ở Hỏa Địa Ngục. Ngoài ra chiếc xe cút kít trong tiếng Nhật có kanji đọc là {{nihongo|"miêu xa"|猫車|nekoguruma|}}, nghĩa đen là "xe mèo".
 +
 
 +
Chữ kanji trong tên cô là {{nihongo||燐|rin|"Lân"}}, chữ này dùng chỉ [[wikipedia:vi:Phốtpho|phốt pho]], một nguyên tố hóa học xuất hiện phổ biến trong diêm, và là nguyên nhân sinh ra lửa ma trơi.
  
Chữ kanji trong tên cô là {{nihongo||燐|rin|"Lân"}}, chữ này dùng chỉ [https://vi.wikipedia.org/wiki/Phốtpho phốt pho], một nguyên tố hóa học xuất hiện phổ biến trong diêm, và là nguyên nhân sinh ra lửa ma trơi.
 
 
===Ngoại hình===
 
===Ngoại hình===
;[[Subterranean Animism]]
+
;''[[Subterranean Animism]]''
 
Rin có tóc màu đỏ để mái ngang, thắt hai bím và buộc nơ đen ở chân và ngọn của mỗi bím tóc. Cô có mắt màu đỏ, một cặp tai mèo màu đen trên đầu và một cặp tai người có vành nhọn. Cô mặc bộ váy màu xanh lá cây đen mới hoa văn màu xanh lục và xanh lam với tay áo dài, quanh cổ áo và ống tay áo có màu đỏ, chân váy có diềm lớn màu xanh lá cây. Cô mang giày đen đế cao với nơ đen, chân trái có buộc thứ gì đó trong như một dải bùa. Xung quanh cô có một vài [[oán linh]] vây quanh.
 
Rin có tóc màu đỏ để mái ngang, thắt hai bím và buộc nơ đen ở chân và ngọn của mỗi bím tóc. Cô có mắt màu đỏ, một cặp tai mèo màu đen trên đầu và một cặp tai người có vành nhọn. Cô mặc bộ váy màu xanh lá cây đen mới hoa văn màu xanh lục và xanh lam với tay áo dài, quanh cổ áo và ống tay áo có màu đỏ, chân váy có diềm lớn màu xanh lá cây. Cô mang giày đen đế cao với nơ đen, chân trái có buộc thứ gì đó trong như một dải bùa. Xung quanh cô có một vài [[oán linh]] vây quanh.
  
Dòng 150: Dòng 148:
  
 
Trong hình dáng mèo, cô là một con mèo đen hai đuôi có mắt đỏ. Phần dưới bụng và đuôi của cô có lẫn màu đỏ.
 
Trong hình dáng mèo, cô là một con mèo đen hai đuôi có mắt đỏ. Phần dưới bụng và đuôi của cô có lẫn màu đỏ.
;[[Hopeless Masquerade]]
+
 
 +
;''[[Hopeless Masquerade]]''
 
Trong sprite của cô, ta thấy được cô có hai đuôi mèo màu đen.
 
Trong sprite của cô, ta thấy được cô có hai đuôi mèo màu đen.
 
==Quá khứ==
 
Khi các [[Diêm Ma]] di dời [[Địa Ngục]] đi khỏi [[Thế giới ngầm]], có rất nhiều oán linh vẫn còn bị bỏ lại nơi đây và cần được kiểm soát. Ngay trên tàn tích của [[Hỏa Địa Ngục]], [[Địa Linh Điện]] đã được dựng nên và là nơi ở của cô. Sau đó cô giao lại các nhiệm vụ của mình cho các thú cưng, còn bản thân Rin thì sống cuộc sống cô lập.
 
  
 
==Vai trò==
 
==Vai trò==
 
{{Story warning}}
 
{{Story warning}}
{{hidden begin
+
{{hidden gray|''[[Subterranean Animism]]''}}
| title = [[Subterranean Animism]]
+
:{{Main|Subterranean Animism/Cốt truyện|l1=Các cốt truyện}}
| titlestyle = background: #dddddd; text-align:center
+
Sau khi người chơi tiến vào [[Địa Linh Điện]], Rin xuất hiện hai lần dưới hình dáng mèo, chỉ tấn công chứ không có đoạn hội thoại nào. Đến khi nhân vật chính tiến sâu hơn đến [[Hỏa Địa Ngục]], Rin tấn công họ dưới dạng mèo thêm một lần nữa trước khi hóa thành dạng người và đối thoại với nhân vật chính. Cô cảnh báo người chơi về sức mạnh mà [[Utsuho|bạn cô]] đang nắm giữ, và khi thấy quyết tâm đi tiếp của nhân vật chính, cô đã đối đầu với nhân vật chính. Nếu thắng cô sẽ "tiện tay" hốt luôn xác của họ, ngược lại chứng tỏ họ đủ mạnh để ngăn cản bạn cô. Sau này cô lại thêm một lần nữa xuất hiện để cố lấy xác nhân vật chính, nhưng một lần nữa cô bị đánh bại.
| titleclass = spoiler-story
+
{{hidden end}}
| bodyclass  = spoiler-story
 
}}
 
Sau khi người chơi tiến vào [[Địa Linh Điện]], Rin xuất hiện hai lần dưới hình dáng mèo, chỉ tấn công chứ không có đoạn hội thoại nào. Đến khi nhân vật chính tiến sâu hơn đến [[Hỏa Địa Ngục]], Rin tấn công họ dưới dạng mèo thêm một lần nữa trước khi hóa thành dạng người và đối thoại với nhân vật chính. Cô cảnh báo người chơi về sức mạnh mà [[Utsuho|bạn cô]] đang nắm giữ, và khi thấy quyết tâm đi tiếp của nhân vật chính, cô đã đối đầu với nhân vật chính. Nếu thắng cô sẽ tiện tay hốt luôn xác của họ, ngược lại chứng tỏ họ đủ mạnh để ngăn cản bạn cô. Sau này cô lại thêm một lần nữa xuất hiện để cố lấy xác nhân vật chính, nhưng một lần nữa cô bị đánh bại.
 
{{hidden end}}<hr>
 
  
 
==Các mối quan hệ==
 
==Các mối quan hệ==
 
;[[Komeiji Satori]]
 
;[[Komeiji Satori]]
Rin là một trong những vật nuôi đầu tiên của Satori, và cô được Satori tin tưởng giao cho nhiệm vụ quản lý các oán linh ở Cựu Địa Ngục.
+
Rin là một trong những vật nuôi đầu tiên của Satori,{{citation needed}} và cô được Satori tin tưởng giao cho nhiệm vụ quản lý các oán linh ở Cựu Địa Ngục.
 
;[[Reiuji Utsuho]]
 
;[[Reiuji Utsuho]]
Cô và Utsuho là bạn thân thiết, họ là hai vật nuôi đầu tiên của Satori. Rin rất quan tâm và lo lắng cho bạn mình khi thấy Utsuho đột nhiên có được một sức mạnh quá to lớn, và cô còn bao che cho Utsuho vì nghĩ rằng nếu Satori biết chuyện thì Utsuho sẽ bị phạt nặng, cô sẵn sàng thực hiện cấm thuật để cố gắng dụ những người có sức mạnh khác đến ngăn bạn mình lại, trực tiếp gây ra dị biến trong [[Subterranean Animism]].
+
Cô và Utsuho là bạn thân thiết, họ là hai vật nuôi đầu tiên của Satori.{{citation needed}} Rin rất quan tâm và lo lắng cho bạn mình khi thấy Utsuho đột nhiên có được một sức mạnh quá to lớn, và cô còn bao che cho Utsuho vì nghĩ rằng nếu Satori biết chuyện thì Utsuho sẽ bị phạt nặng, cô sẵn sàng thực hiện cấm thuật để cố gắng dụ những người có sức mạnh khác đến ngăn bạn mình lại, trực tiếp gây ra dị biến trong ''[[Subterranean Animism]]''.
  
 
==Các mối quan hệ nhỏ==
 
==Các mối quan hệ nhỏ==
Dòng 180: Dòng 172:
  
 
==Spell Card==
 
==Spell Card==
{{hidden begin
+
{{hidden blue}}
| title = Spell Card
+
{{#lsth:Kaenbyou Rin/Spell card|Danh sách}}
| titlestyle = background: #87ceeb; text-align:center
 
| bodystyle  = border: 2px solid #87ceeb
 
| titleclass = spoiler-spell
 
| bodyclass  = spoiler-spell
 
}}
 
{{#lsth:List_of Spell Cards/Touhou Project 2|[[Kaenbyou Rin]]}}
 
 
{{hidden end}}
 
{{hidden end}}
  
Dòng 193: Dòng 179:
 
*Rin xuất hiện với vai trò midboss tới 3 lần trong 3 màn khác nhau trong một game, vốn là điều chưa từng xảy ra trước đây.
 
*Rin xuất hiện với vai trò midboss tới 3 lần trong 3 màn khác nhau trong một game, vốn là điều chưa từng xảy ra trước đây.
 
*Khá đặc biệt khi nhạc nền của Rin được chạy trước khi danh hiệu của cô được giới thiệu.
 
*Khá đặc biệt khi nhạc nền của Rin được chạy trước khi danh hiệu của cô được giới thiệu.
*Ảnh nhân vật của Rin trong [[Subterranean Animism]] vẽ tai người của cô trông như có vành nhọn. Đây có thể là một lỗi do ZUN gặp khó khăn trong những lần đầu vẽ tai, giống những gì xảy ra với [[Mizuhashi Parsee]].
+
*Ảnh nhân vật của Rin trong ''[[Subterranean Animism]]'' vẽ tai người của cô trông như có vành nhọn. Đây có thể là một lỗi do [[ZUN]] gặp khó khăn trong những lần đầu vẽ tai, giống những gì xảy ra với [[Mizuhashi Parsee]].
*Trong game [[Samidare]] của [[Project Blank]], boss [[Anareta]] có một vài đòn tấn công được lấy ý từ đòn tấn công của cô.
+
*Trong game [[Samidare]] của [[Project Blank]], boss [[Anareta]] có một vài đòn tấn công được lấy ý tưởng từ đòn tấn công của cô.
*Điệu nhảy của Rin trong [[Hopeless Masquerade]] có thể được tham khảo từ game [[Komeiji Satori no Jousou Kyouiku]] cũng do chính [[Twilight Frontier]] làm ra. Trong game này Rin hoặc Koishi sẽ nhảy điệu nhảy tương tự nếu họ thành công lấy được hộp quà trước.
+
*Điệu nhảy của Rin trong ''[[Hopeless Masquerade]]'' có thể được tham khảo từ game [[Komeiji Satori no Jousou Kyouiku]] cũng do chính [[Twilight Frontier]] làm ra. Trong game này Rin hoặc Koishi sẽ nhảy điệu nhảy tương tự nếu họ thành công lấy được hộp quà trước.
  
 
==Fandom==
 
==Fandom==
 
{{Fandom warning}}
 
{{Fandom warning}}
{{hidden begin
+
{{hidden teal|Rin trong fandom}}
| title = Rin trong fandom
 
| titlestyle = background: #47ebce; text-align:center
 
| titleclass = spoiler-fandom
 
| bodyclass  = spoiler-fandom
 
}}
 
 
*Những nhân vật thường xuất hiện cùng Rin trong fanwork:
 
*Những nhân vật thường xuất hiện cùng Rin trong fanwork:
 
**[[Reiuji Utsuho]]: Do họ là bạn thân nên Utsuho và Rin rất thường xuyên xuất hiện với nhau trong fanwork.
 
**[[Reiuji Utsuho]]: Do họ là bạn thân nên Utsuho và Rin rất thường xuyên xuất hiện với nhau trong fanwork.
 
**[[Komeiji Satori]]: Satori là chủ của Rin, vậy nên họ cùng thường hay được vẽ chung với nhau, đôi khi là chung với cả Utsuho.
 
**[[Komeiji Satori]]: Satori là chủ của Rin, vậy nên họ cùng thường hay được vẽ chung với nhau, đôi khi là chung với cả Utsuho.
 
**[[Komeiji Koishi]]: Rin ít khi được vẽ riêng với Koishi mà hầu hết là vẽ chung với mọi người trong Địa Linh Điện.
 
**[[Komeiji Koishi]]: Rin ít khi được vẽ riêng với Koishi mà hầu hết là vẽ chung với mọi người trong Địa Linh Điện.
**[[Tiên nữ thây ma]] và các [[oán linh]]: Tiên nữ thây ma được Rin dùng trong một số spell card của mình và đôi khi chúng xuất hiện trong các fanwork về Orin. Các oán linh xuất hiện trong ảnh của cô trong [[Subterranean Animism]] nên chúng cũng hay được vẽ là đang bay lượn xung quanh cô.
+
**[[Tiên nữ thây ma]] và các [[oán linh]]: Tiên nữ thây ma được Rin dùng trong một số spell card của mình và đôi khi chúng xuất hiện trong các fanwork về Orin. Các oán linh xuất hiện trong ảnh của cô trong ''[[Subterranean Animism]]'' nên chúng cũng hay được vẽ là đang bay lượn xung quanh cô.
 
**[[Chen]]: Chen và Rin đều là yêu quái mèo nên những fanart về họ nhanh chóng xuất hiện.
 
**[[Chen]]: Chen và Rin đều là yêu quái mèo nên những fanart về họ nhanh chóng xuất hiện.
**[[Miyako Yoshika]]: Do Rin và Yoshika từng xuất hiện trong bài báo trên [[Symposium of Post-mysticism]], cộng với mối liên hệ giữa một yêu quái trộm xác và một xác chết, có một vài hoạ sĩ vẽ họ chung với nhau.
+
**[[Miyako Yoshika]]: Do Rin và Yoshika từng xuất hiện trong bài báo trên ''[[Symposium of Post-mysticism]]'', cộng với mối liên hệ giữa một yêu quái trộm xác và một xác chết, có một vài hoạ sĩ vẽ họ chung với nhau.
 
*Fan cũng rất hay dùng biệt danh Orin để gọi cô, và thậm chí còn có phần nhiều hơn cả tên gọi Rin vì tên này dễ bị nhầm lẫn với tên của [[Satsuki Rin]]. Ngoài ra fan Nhật còn đặt cho cô biệt danh là {{nihongo|Orinrin|おりんりん||}}.
 
*Fan cũng rất hay dùng biệt danh Orin để gọi cô, và thậm chí còn có phần nhiều hơn cả tên gọi Rin vì tên này dễ bị nhầm lẫn với tên của [[Satsuki Rin]]. Ngoài ra fan Nhật còn đặt cho cô biệt danh là {{nihongo|Orinrin|おりんりん||}}.
*Tranh vẽ Rin trong dạng mèo cũng hết sức phổ biến.
+
*Tranh vẽ Rin trong dạng mèo hết sức phổ biến, thường là vẽ cô với vai trò thú cưng của Satori.
 +
*Là một con mèo, không lạ khi fan vẽ cô với "khuôn mặt của mèo" điển hình (:3).
 
*Do Rin có hai cặp tai, nhiều fanwork mô tả cặp tai mèo của cô là tai giả và có thể tháo ra được.
 
*Do Rin có hai cặp tai, nhiều fanwork mô tả cặp tai mèo của cô là tai giả và có thể tháo ra được.
 
*Tương tự như Satori, Rin đôi khi được vẽ với kiểu trang phục theo phong cách steam punk hay gothic lolita.
 
*Tương tự như Satori, Rin đôi khi được vẽ với kiểu trang phục theo phong cách steam punk hay gothic lolita.
 
*Rin hay được mô tả là có năng lực như của một kẻ gọi hồn ("necromancer") do năng lực liên quan đến xác chết và linh hồn của cô.
 
*Rin hay được mô tả là có năng lực như của một kẻ gọi hồn ("necromancer") do năng lực liên quan đến xác chết và linh hồn của cô.
*Điệu nhảy vui nhộn của cô trong [[Hopeless Masquerade]] đã nhanh chóng trở thành một ''meme'' nổi tiếng trong fandom và được ghép với nhiều ảnh và video khác nhau.
+
*Điệu nhảy vui nhộn của cô trong ''[[Hopeless Masquerade]]'' đã nhanh chóng trở thành một meme nổi tiếng trong fandom và được ghép với nhiều ảnh và video khác nhau.
 
{{hidden end}}
 
{{hidden end}}
  
 
==Thông tin cá nhân==
 
==Thông tin cá nhân==
{{hidden begin
+
{{hidden green|''[[Subterranean Animism]]'' - [[Subterranean Animism/Thông tin cá nhân|キャラ設定.txt]]}}
| title = [[Subterranean Animism]] - キャラ設定.txt
+
{{#lsth:Subterranean Animism/Thông tin cá nhân|[[Kaenbyou Rin]]}}
| titlestyle = background: #b9d379; text-align:center
+
{{hidden end}}
| titleclass = spoiler-profile
+
 
| bodyclass  = spoiler-profile
 
}}
 
{{#lsth:Thông tin cá nhân/Subterranean Animism|[[Kaenbyou Rin]]}}
 
{{hidden end}}<hr>
 
 
==Thư viện ảnh==
 
==Thư viện ảnh==
<gallery>File:ThGK_Bunbunmaru2.jpg|Rin và [[Yoshika]] trong [[Symposium of Post-mysticism]]</gallery>
+
;Ấn phẩm
 +
<gallery>
 +
File:ThGK_Bunbunmaru2.jpg|''[[Symposium of Post-mysticism]]'' (cùng với [[Yoshika]])
 +
</gallery>
 +
 
 
==Sprite==
 
==Sprite==
 
{{Sprite
 
{{Sprite
 
  | file = [[File:Th11OrinSprite.png]]
 
  | file = [[File:Th11OrinSprite.png]]
  | desc = Sprite của Rin trong [[Subterranean Animism]]
+
  | desc = ''[[Subterranean Animism]]''
 
}}
 
}}
 
{{Sprite
 
{{Sprite
 
  | file = [[File:Th11OrinCatSprite.png]]
 
  | file = [[File:Th11OrinCatSprite.png]]
  | desc = Sprite của Rin với hình dạng mèo trong [[Subterranean Animism]]
+
  | desc = ''[[Subterranean Animism]]'' (dạng mèo)
 
}}
 
}}
 
{{Sprite
 
{{Sprite
 
  | file = [[File:Th135RinDancing.gif]]
 
  | file = [[File:Th135RinDancing.gif]]
  | desc = Sprite của Rin trong [[Hopeless Masquerade]]
+
  | desc = ''[[Hopeless Masquerade]]''
 
}}
 
}}
  
==Nguồn==
 
*[[Subterranean Animism]] - Các đoạn hội thoại màn 5, 6; キャラ設定.txt (thông tin cá nhân)
 
*[[Double Spoiler]] - [[Double Spoiler/Spell card/Màn 8|Bình luận spell card màn 8]]
 
*[[Grimoire of Marisa]] - [[Grimoire of Marisa/Rin|Spell card của Kaenbyou Rin]]
 
*[[Wild and Horned Hermit]] - Chương 28
 
*[[Symposium of Post-mysticism]] - [[Symposium of Post-mysticism/Kaenbyou Rin|Kaenbyou Rin]]; [[Sứ giả từ Cựu Địa Ngục và người hộ vệ kỳ lạ]]
 
 
==Chú thích==
 
==Chú thích==
<references/>
+
<references>
 +
<ref name="saokuu">''[[Subterranean Animism]]'': [[Subterranean Animism/Thông tin cá nhân#Reiuji Utsuho|Thông tin cá nhân của Utsuho]].</ref>
 +
<ref name="sopm">''[[Symposium of Post-mysticism]]'': [[Symposium of Post-mysticism/Orin|Kaenbyou Rin]].</ref>
 +
<ref name="sopmsatori">''[[Symposium of Post-mysticism]]'': [[Symposium of Post-mysticism/Satori|Komeiji Satori]].</ref>
 +
<ref name="sopmyoshika">''[[Symposium of Post-mysticism]]'': [[Symposium of Post-mysticism/Yoshika|Miyako Yoshika]].</ref>
 +
<ref name="wahh28">''[[Wild and Horned Hermit]]'': Chương 28.</ref>
 +
</references>
  
  

Bản hiện tại lúc 15:36, ngày 12 tháng 4 năm 2019

Rin được chuyển hướng về trang này, để xem các trang khác tương tự, hãy vào Rin (điều hướng).

火焔猫 (かえんびょう)   (りん)
Kaenbyou Rin
kaembʲoː ɽiɴ (♫)
Kaenbyou Rin
Tai họa giao thông của Địa Ngục
Biệt danh

Orin ( (りん) )

Chủng loài

Mang xác chết đi, giao tiếp và điều kiển linh hồn

Công việc

Quản lý các linh hồn ở tàn tích của Hỏa Địa Ngục

Nơi sinh sống / hoạt động

Kaenbyou Rin (火焔猫 燐 Kaenbyou Rin) là một hỏa xa sống ở Thế giới ngầm. Cô xuất hiện lần đầu trong Subterranean Animism.

Thông tin[sửa]

Rin trong chương 28 Wild and Horned Hermit.

Tính cách[sửa]

Cô là người có tính cách đơn giản và vui tươi, cô không phải là dạng người hai mặt, và chỉ sống cho hiện tại.[1] Trong những lần xuất hiện của mình, Rin cho thấy mình là người hoạt bát và lạc quan, trong Subterranean Animism cô không hề có thái độ thù hằn nào khi bị nhân vật chính đánh bại, thậm chí cô còn khen ngợi sức mạnh của họ và vui mừng vì nghĩ rằng họ có thể ngăn được việc bạn cô vượt khỏi tầm kiểm soát.

Cô yêu thích công việc vận chuyển, chính xác hơn là đánh cắp, xác chết của mình, Akyuu lý giải nó như một hành vi mèo vờn chuột, chỉ khác là ở đây cô không vờn chuột mà vờn với linh hồn thoát ra từ con người vừa mới qua đời.[cần dẫn nguồn] Cô yêu thích việc trò chuyện với những linh hồn của người đã khuất, có nhiều người không nhận ra là mình đã qua đời mà vẫn nói những chuyện rất bình thường như ngày mai họ sẽ làm gì. Ngược lại cô không thích trò chuyện với những người bị yêu quái sát hại, vì họ sẽ "không còn thú vị nữa".[1] Đây là nguyên nhân mà cô không thích ra tay giết người để lấy xác. Trong khi cô luôn thích cướp những xác chết ngay giữa tang lễ, cô có vẻ không có hứng thú với những cái xác đã được chôn cất yên ổn.

Cô không thích cái tên dài, và vì thế thích được mọi người gọi bằng biệt danh Orin của mình.

Năng lực[sửa]

Mặc dù không có mô tả chính thức, một trong những khả năng dễ thấy nhất của Rin là chuyển đổi giữa hình dáng người và hình dáng mèo. Cô thích ở trong hình dạng mèo hơn, nhưng trong hình dạng này cô sẽ không thể nói chuyện được và cũng không thể thực hiện việc lấy xác người được.

Mang xác chết đi

Giống như truyền thuyết về các hỏa xa, năng lực của Rin được mô tả là "khả năng mang xác chết đi". Những cái xác này sẽ được dùng làm nguyên liệu cho Hỏa Địa Ngục, còn linh hồn của chúng sẽ trở thành những oán linh không thể nào được siêu thoát. Cô vận chuyển những xác chết trên chiếc xe của mình, và rất ngạc nhiên khi cô không dùng sức mạnh của yêu quái mà chỉ dùng một số mẹo để thực hiện việc này, và lại còn đạt hiệu quả cao đến đáng ngạc nhiên nữa chứ.[1]

Khả năng lẫn vào đám đông và cướp lấy cái xác của Rin tốt một cách đáng kinh ngạc, trong Symposium of Post-mysticism có viết nếu không ai nhận ra sự xuất hiện của cô, cái xác sẽ biến mất một cách lặng lẽ ngay giữa tang lễ.[cần dẫn nguồn] Trong chương 28 của Wild and Horned Hermit, Rin táo tợn đến mức đứng giữa nhóm của Reimu và thu thập những viên đá quý, và nếu không phải Marisa bất ngờ nhận ra sự xuất hiện của cô và bắt cô lại, có thể cô đã thành công và lặng lẽ đi khỏi đó mà không ai biết.

Giao tiếp và điều khiển linh hồn

Cô có khả năng giao tiếp với xác chết cũng như điều khiển các loại linh hồn. Cô còn chứng tỏ khả năng khiến các xác chết vô tri trở lại hành động như những thây ma. Một năng lực khác nữa của Rin là một cách nào đó ép các oán linh phải tràn lên khỏi mặt đất. Thông tin cá nhân của cô mô tả đây là một cấm thuật, mặc dù không rõ bản thân thuật này là một thuật bị cấm hay nguyên nhân nó bị cấm là vì nó vi phạm hiệp ước không xâm phạm giữa mặt đất và Thế giới ngầm.

Spell card
Biểu tượng của Rin trong The Grimoire of Marisa.

Các chủ đề phổ biến trong spell card của Rin là về linh hồn, nguyền rủa và xác chết. Một số spell card của cô có sự xuất hiện của các tiên nữ thây ma. Đòn tấn công và spell card của cô sử dụng danmaku hình hạt gạo màu đỏ và xanh dương được bắn theo từng vòng.

Nghề nghiệp[sửa]

Công việc của cô là điều khiển các oán linh ở khu vực Cựu Địa Ngục, mặc dù người ta nói sự thật là cô chỉ thống kê sự tăng giảm của chúng trong khi để chúng chạy loạn tùy ý.[2] Rin cũng lấy xác chết để làm nguyên liệu cho ngọn lửa tại tàn tích của Hỏa Địa Ngục mỗi khi cần cho ngọn lửa nóng thêm.[3]

Sở hữu[sửa]

Món đồ đặc trưng của Rin chính là chiếc xe đẩy của cô, tên gọi là "xe mèo của Orin" (お燐の猫車 Orin no nekoguruma). Đây có lẽ là "chiếc xe cút kít chở nhiều xác chết nhất trên thế giới", theo lời Akyuu.[1] Một trong những mẹo hành động mà Orin sử dụng là "giấu những cái xác ăn trộm trong xe mèo". Và không ai ngờ rằng cô mang những xác chết đó theo một cách công khai trên đường phố. Vì lý do này, cô có thể ngang nhiên ăn cắp bao nhiêu xác chết tùy ý. Trong khi trông như một chiếc xe bình thường, hẳn nó phải có một tác dụng đặc biệt trong việc che dấu các dấu hiệu đặc trưng của một xác chết mới có thể giúp cô tùy ý đẩy xe ở những nơi đông người như vậy. Marisa từng lén mở lớp bạt phủ của chiếc xe lên để xem, và mặc dù ta không biết cô thấy được những gì, vẻ mặt của cô lúc đó không mấy dễ chịu.[4]

Trong bài báo về Yoshika, ta có thấy trong chiếc xe của cô là những mẩu xương khác nhau.[5]

Thiết kế[sửa]

Tên gọi[sửa]

Ý nghĩa những chữ trong họ Kaenbyou:

  • ka (, "Hỏa" nghĩa là "lửa").
  • en (, "Diệm" nghĩa là "cháy").
  • byou (, "Miêu" nghĩa là "con mèo").

Họ của Rin có thể dịch là "con mèo rực lửa", phù hợp với các đặc điểm của cô là một con mèo sống ở Hỏa Địa Ngục. Ngoài ra chiếc xe cút kít trong tiếng Nhật có kanji đọc là "miêu xa" (猫車 nekoguruma), nghĩa đen là "xe mèo".

Chữ kanji trong tên cô là rin (, "Lân"), chữ này dùng chỉ phốt pho, một nguyên tố hóa học xuất hiện phổ biến trong diêm, và là nguyên nhân sinh ra lửa ma trơi.

Ngoại hình[sửa]

Subterranean Animism

Rin có tóc màu đỏ để mái ngang, thắt hai bím và buộc nơ đen ở chân và ngọn của mỗi bím tóc. Cô có mắt màu đỏ, một cặp tai mèo màu đen trên đầu và một cặp tai người có vành nhọn. Cô mặc bộ váy màu xanh lá cây đen mới hoa văn màu xanh lục và xanh lam với tay áo dài, quanh cổ áo và ống tay áo có màu đỏ, chân váy có diềm lớn màu xanh lá cây. Cô mang giày đen đế cao với nơ đen, chân trái có buộc thứ gì đó trong như một dải bùa. Xung quanh cô có một vài oán linh vây quanh.

Chiếc xe của cô có màu vàng nâu của gỗ, phủ bạt trắng bên trên.

Trong hình dáng mèo, cô là một con mèo đen hai đuôi có mắt đỏ. Phần dưới bụng và đuôi của cô có lẫn màu đỏ.

Hopeless Masquerade

Trong sprite của cô, ta thấy được cô có hai đuôi mèo màu đen.

Vai trò[sửa]

※ Cảnh báo: Tiết lộ cốt truyện. ※

Các mối quan hệ[sửa]

Komeiji Satori

Rin là một trong những vật nuôi đầu tiên của Satori,[cần dẫn nguồn] và cô được Satori tin tưởng giao cho nhiệm vụ quản lý các oán linh ở Cựu Địa Ngục.

Reiuji Utsuho

Cô và Utsuho là bạn thân thiết, họ là hai vật nuôi đầu tiên của Satori.[cần dẫn nguồn] Rin rất quan tâm và lo lắng cho bạn mình khi thấy Utsuho đột nhiên có được một sức mạnh quá to lớn, và cô còn bao che cho Utsuho vì nghĩ rằng nếu Satori biết chuyện thì Utsuho sẽ bị phạt nặng, cô sẵn sàng thực hiện cấm thuật để cố gắng dụ những người có sức mạnh khác đến ngăn bạn mình lại, trực tiếp gây ra dị biến trong Subterranean Animism.

Các mối quan hệ nhỏ[sửa]

Komeiji Koishi

Rin cũng biết Koishi trước khi cô tự phong ấn con mắt thứ ba lại và rời khỏi Thế giới ngầm.

Yoshika Miyako

Rin từng được mời lên trên mặt đất để giao tiếp với Yoshika, giúp người ta biết được mục đích của Yoshika là gì và liệu cô có gây hại hay không.

Spell Card[sửa]

Bên lề[sửa]

  • Rin xuất hiện với vai trò midboss tới 3 lần trong 3 màn khác nhau trong một game, vốn là điều chưa từng xảy ra trước đây.
  • Khá đặc biệt khi nhạc nền của Rin được chạy trước khi danh hiệu của cô được giới thiệu.
  • Ảnh nhân vật của Rin trong Subterranean Animism vẽ tai người của cô trông như có vành nhọn. Đây có thể là một lỗi do ZUN gặp khó khăn trong những lần đầu vẽ tai, giống những gì xảy ra với Mizuhashi Parsee.
  • Trong game Samidare của Project Blank, boss Anareta có một vài đòn tấn công được lấy ý tưởng từ đòn tấn công của cô.
  • Điệu nhảy của Rin trong Hopeless Masquerade có thể được tham khảo từ game Komeiji Satori no Jousou Kyouiku cũng do chính Twilight Frontier làm ra. Trong game này Rin hoặc Koishi sẽ nhảy điệu nhảy tương tự nếu họ thành công lấy được hộp quà trước.

Fandom[sửa]

※ Cảnh báo: Bất kỳ chi tiết nào được mô tả trong mục này đều hoàn toàn là hư cấu và không phải là các thông tin chính thức của nhân vật ※

Thông tin cá nhân[sửa]

Thư viện ảnh[sửa]

Ấn phẩm

Sprite[sửa]

Th11OrinCatSprite.png
Subterranean Animism (dạng mèo)

Chú thích[sửa]